Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

CHUYỆN VỀ VỊNH CAM RANH VÀ THỰC TRẠNG VIỆT NAM

BẢN TIN ĐẶC BIỆT: Tình Hình Chiến Lược Hoa Kỳ ở Châu Á Thái Bình Dương



Tình Hình Chiến Lược Hoa Kỳ ở Châu Á Thái Bình Dương
5/6/2012
Nguyễn Văn Khanh
Võ Thành Nhân

Chuyện về vịnh Cam Ranh và thực trạng Việt Nam

Tuesday, June 05, 2012 3:15:44 PM
(Phỏng vấn một cựu tướng lãnh Mỹ)

*Toàn Như chuyển ngữ

Lời giới thiệu: Gần đây, báo chí đã loan tin, ngày 3 tháng 6, 2012 vừa qua, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta đã đến Việt Nam và đã ghé thăm cảng Cam Ranh, Khánh Hòa. Ông Panetta là giới chức quân sự cao cấp nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thăm lại nơi đã từng là một căn cứ quân sự của Mỹ tại Việt Nam. Cảng Cam Ranh là một trong những hải cảng tốt nhất của Việt Nam và vùng Ðông Nam Á. Trước năm 1975, Cam Ranh từng là một căn cứ quân sự lớn của Mỹ tại Việt Nam, nhưng sau năm 1975, Liên Xô đã thuê lại căn cứ này, nhưng sau đó, vì những khó khăn về tài chánh sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga đã hủy bỏ hợp đồng thuê căn cứ này vào năm 2002. Hiện nay, trước sự lộng hành của Trung Cộng tại Biển Ðông, Việt Nam đang muốn quốc tế hóa vùng biển này và ngầm mời gọi Hoa Kỳ trở lại Biển Ðông và vịnh Cam Ranh hầu làm giảm thiểu tình hình căng thẳng tại vùng biển này.
Trước 1975, Trung Tướng (hồi hưu) John E. Murray là người đã phục vụ 2 nhiệm kỳ trong chiến tranh tại Việt Nam. Ông từng là người chỉ huy hải cảng Cam Ranh (1968-1969) của quân đội Mỹ, và sau đó là chỉ huy phó Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Tiếp Vận tại Sài Gòn (1972). Hiện nay tướng Murray đã giải ngũ và hiện là một luật sư làm việc cho Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ. Với nhiệm vụ này, Tướng Murray đã nhiều lần trở lại Việt Nam sau khi chiến tranh chấm dứt. Ðể tìm hiểu về Cảng Cam Ranh và thực trạng Việt Nam sau chiến tranh, mời quý bạn đọc xem lại cuộc phỏng vấn tướng Murray được phổ biến trong trang mạng www.HistoryNet.comvà www.VietnamMag.com. Cuộc phỏng vấn đã tiết lộ cho biết khá nhiều chi tiết thú vị về hải cảng Cam Ranh cũng như thực trạng Việt Nam sau cuộc chiến. (TN)





-Phóng viên (PV): Tại sao ông trở lại Việt Nam?
-Tướng Murray: Tôi có hai lý do: một lý do tốt và một lý do thực sự. Lý do tốt đó là tôi là một nhà doanh nghiệp hiểu biết về đất nước này. Còn lý do thực sự là sự tò mò. Giống như hầu hết mọi người từng ở trong quân đội, tôi là người tự dằn vặt mình. Trải qua những khổ đau về một cuộc chiến bị thua cũng giống như nghĩ về một tình yêu đã mất. Nỗi nhớ về nơi chốn xưa trong nỗi đau đã tan loãng không giống những cái khác.
-PV: Năm 1974 ông đã từng cảnh cáo về điều có thể xảy ra là, nếu chúng ta thất bại trong việc trợ giúp Miền Nam Việt Nam sẽ là một sự hổ thẹn vô cùng cho chúng ta, và điều này ông đã đúng. Tôi ngưỡng mộ việc ông đã trở lại để nhìn thẳng vào những sự việc bằng con mắt mới mẻ và thực tiễn. Vậy những ấn tượng đầu tiên của ông về một nước Việt Nam hiện tại là gì?
-Murray: Chiến tranh đã là quá khứ hơn 20 năm nay rồi (Ghi chú của ND: cuộc phỏng vấn này đã diễn ra khoảng đầu thế kỷ 21). Những người lính trẻ không biết gì về nó; họ chỉ tò mò về người Mỹ. Ðối với các sĩ quan lớn tuổi hơn, một số lớn dược giáo dục tại Nga và tại Ðông Âu. Chỉ có một số trong số họ thực thụ thích thú nói về vấn đề này.
-PV: Ðối với giới quân đội Việt Nam, tôi tưởng như ông đã bước vào thời kỳ lịch sử của những người xét lại. Thật là thích thú khi biết những việc họ đã làm mà chúng ta lại chưa biết, và họ đã nghĩ gì về chúng ta và cuộc Chiến Tranh Lạnh.
-Murray: Tôi đã gặp giới quân sự đang tại chức và cả với những người từng là cựu quân nhân hiện đang là những giám đốc các xí nghiệp quốc doanh, họ rất cởi mở và thân thiện, như tất cả chúng ta đã từng trải qua trong những cuộc chiến tranh khác. Những người lính Mỹ không được huấn luyện để thù ghét, họ chỉ được huấn luyện để giết hại (kẻ thù), và dù là những nhân viên tiếp vận (như tôi) cũng chỉ là một bộ phận của cái guồng máy giết tróc mà thôi. Dù là tuyên truyền chúng ta đã nghe như thế nào trong những năm qua, hầu hết mọi người lính, kể cả những người lính Việt Nam, cũng vậy thôi. Thực vậy, chúng tôi dính líu đến cùng một nghiệp vụ và thích được nói chuyện về những lợi ích trong công việc mà chúng tôi từng làm. Cũng giống như các chủ ngân hàng thích nói chuyện với các chủ ngân hàng, các sử gia với các sử gia, và các người lính với các người lính.
-PV: Họ đã nói gì về cuộc chiến?
-Murray: Tại vịnh Cam Ranh, tôi đã gặp một nhân vật khá hiểu biết và vô cùng thích thú. Như ông biết, Cam Ranh và vùng phụ cận của nó rất giàu khoáng sản, không phải chỉ có loại cát trắng silica phẩm chất cao không mà thôi. Một công ty quốc doanh đang khai thác, xuất cảng loại cát này, gần một triệu tấn một năm. Giám đốc xí nghiệp này là kỹ sư Trần Huy Hải. Trong thời kỳ chiến tranh ông ta có trách nhiệm xây dựng và bảo trì Ðường Mòn Hồ Chí Minh, hay gọi tắt là Ðường Mòn, như họ vẫn thường gọi như thế.
-PV: Họ đã giải quyết thế nào khi có giội bom?
-Murray: Ðó là câu đầu tiên mà tôi đã hỏi ông ta. Câu trả lời của ông ta đã làm tôi ngạc nhiên đến nỗi tôi phải yêu cầu ông ta lập lại vì không tin vào lỗ tai mình. Ông ta đã nói lại hai lần (qua lời thông dịch viên) rằng, “Khi các oanh tạc cơ đến, tôi nhìn lên trời và rất vui mừng!” Sau đó, ông ta giải thích, “Ðường mòn không chỉ là một con đường mòn. Nó là ba con đường mòn lận. Con đường mòn không chạy dài bất tận, nó chạy theo hướng Bắc Nam khoảng hơn 1000 km. Ba con đường mòn - một dành cho xe tăng, một dành cho xe vận tải, một cho binh lính - giống như một con rắn. Mỗi con đường uốn lượn và chuyển thành hơn 10,000 km đường rừng ngụy trang. Hiệu quả của việc giội bom rất thấp.” Ông ta nói thêm, “Muỗi sốt rét (anopheles) còn tai hại hơn là việc bỏ bom và nó cũng mang đến thương vong nhiều hơn.” Trần Huy Hải trông có vẻ ốm yếu. Bệnh sốt rét đã làm ông mất một phần cái bao tử. Ông ta cũng đang bị bệnh thận. Kỹ sư Hải biết rất rõ về chiến thuật giảm quân số của Tướng Westmoreland. Thế nhưng sự trợ giúp của muỗi sốt rét cũng thất bại, không chỉ bởi khả năng sinh sản của xã hội Việt Nam mà còn vì họ đã sử dụng phụ nữ như một xưởng đẻ. Hải đã nói, “Tất cả việc nổ mìn, xây dựng và bảo trì Ðường Mòn Hồ Chí Minh là công việc của phụ nữ.” Ông ta nhấn mạnh đến chữ “tất cả.” Ông ta còn nói, “Một trăm phần trăm các công nhân đều tin rằng chiến tranh rồi sẽ thắng.”
-PV: Ông có thấy niềm tin đó rộng rãi trong giới quân sự không?
-Murray: Không, tôi không thấy cái tư tưởng đó rộng rãi trong giới quân sự. Bạn có thể tổng hợp các quan điểm. Họ nói một cách công khai, mà tôi có thể nói đó là một nhận xét chung, rằng “nếu người Mỹ các ông tiếp tục công việc ấy (đó là việc bỏ bom Bắc Việt năm 1972) thêm 4 tháng nữa, chúng tôi đã thua rồi.” Trong cuộc không tập cuối cùng của Mỹ vào Miền Bắc, không có chiếc máy bay nào bị tổn thất. Ðây là lần đầu tiên Hoa Kỳ không bị mất một chiếc máy bay nào. Qua các máy liên lạc điện tử chúng ta biết rằng Bắc Việt đã không còn các hỏa tiễn SAM (surface-to-air missiles: hỏa tiễn đất-đối-không). Họ thực sự không còn được võ trang và che chắn khỏi sự không tập ồ ạt.
-PV: Nếu chúng ta đã biết điều đó, vậy thì tại sao cuộc giội bom lại bị ngừng?
-Murray: Ðô Ðốc Thomas H. Moorer, chủ tịch Ban Tham Mưu Hỗn Hợp, đã yêu cầu được tiếp tục giội bom, nhưng lời yêu cầu này đã bị bác. Sự bác bỏ này là một trong những cái NẾU to lớn của cuộc chiến. Chúng ta chỉ có thể đánh giá sự việc xảy ra nếu lời yêu cầu của Ban Tham Mưu Hỗn Hợp được trân trọng.
PV: Tôi biết rằng Tướng Bob Kingston và một vị cựu chủ tịch Ban Tham Mưu Hỗn Hợp khác, Tướng Jack Vessey, người đã từng trở lại Việt Nam 6 lần với tư cách là đặc sứ của tổng thống về vấn đề POW/MIA (tù binh và người mất tích), đã có một nhận xét khác khi họ nghe từ Tướng Giáp, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng của Bắc Việt.
-Murray: Tôi cũng có nghe điều đó. Theo Tướng Kingston, Tướng Giáp nói với họ rằng, một trong những lý do làm cho họ thắng và chúng ta thua là họ “không có máy điện toán.” Tôi đã nghĩ về điều đó khi mới đây tôi được tham dự một buổi lễ tốt nghiệp tại Trường Cao Ðẳng Bộ Binh Hoa Kỳ. Tòa nhà mới “Lãnh Ðạo Chiến Thuật” (Strategic Leadership) của họ đã có số máy điện toán trị giá hơn 25 triệu Mỹ kim.
-PV: 25 triệu Mỹ kim máy điện toán đó chẳng bao giờ có thể tương xứng với những sự nối kết điện tử, hóa học đầy rắc rối với sự ngoắt ngoéo của bộ óc con người. Cộng thêm cái “xa lộ thông tin” mới cho chúng đi nữa, bạn vẫn không thể tương xứng với cái phức tạp rắc rối đã có trong cái đầu óc của Giáp. Khi ông ta nói có vẻ vênh váo về máy điện toán, Giáp đã nói không có vẻ gì châm biếm cả.
-Murray: Tôi nhớ đã đọc bài phỏng vấn khá nổi tiếng với Tướng Giáp vào tháng 2 năm 1969 do một ký giả người Ý là Oriana Fallacci thực hiện. Giáp cũng đã nói, “Hoa Kỳ... đang lay động cuộc chiến bằng chiến lược toán học. Họ yêu cầu các máy điện toán của họ làm các tính cộng, tính trừ, rút căn số, và rồi từ đó họ hành động.”
-PV: Ðiều đó chắc ứng dụng cho Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara và những nhà phân tích trong hệ thống cộng sự “tuổi trẻ tài cao” của ông ấy.
-Murray: Ðúng như vậy. Vì Tướng Giáp nói vào năm 1969, sáu năm trước khi Sài Gòn thất thủ, rằng “chiến lược toán học không hữu hiệu ở đây- bởi vì nếu nó hữu hiệu, họ đã tiêu diệt chúng tôi rồi.”
-PV: Trở lại hiện tại, các người ở trong quân đội Việt Nam hiện nay đang làm gì?
-Murray: Cái ý tưởng về sự phối hợp kỹ nghệ quân sự của họ làm cho cái nhận thức của chúng ta về nó không thể tưởng tượng được và cũng khó mà so sánh. Quân đội hiện ở trong một doanh nghiệp lớn. Ðó là nơi của các doanh gia. Các thành viên của quân đội là những người được giáo dục, huấn luyện, có kỷ luật và tổ chức tốt nhất. Họ có một cái nhìn tổng hợp về sự phát triển kỹ thuật cao và hầu hết những gì có thể mang lại lợi lộc.
-PV: Ở Á Châu họ có thể nói về Khổng Tử, nhưng hầu hết mọi người lại theo câu châm ngôn của George Bernard Shaw “Tiền bạc là nguồn gốc của mọi đạo lý” (Money is the root of all virtue).
-Murray: Chắc chắn như vậy. Chẳng hạn như, trong chuyến trở lại Việt Nam đầu tiên của tôi năm 1993, một ông trung tá trẻ, sắc sảo, đúng đắn, lịch sự trong quân phục đã tự giới thiệu bằng tiếng Anh rất khá. Ông ta hỏi tôi có muốn đi tới Long Bình không.
-PV: Ðó là một trong những căn cứ tiếp liệu lớn nhất của chúng ta. Ông ấy hẳn đã biết ông từng là một chuyên viên về tiếp vận trong thời chiến.
-Murray: Họ biết quá khứ của tôi. Và có thể họ cũng có hồ sơ của anh nữa (Ghi chú: Phóng viên phỏng vấn Tướng Murray là Robert L. Burke, cựu đại tá Lục Quân Mỹ, cũng đã từng phục vụ tại Việt Nam với tư cách là trưởng phòng Thông Tin của MACV), bởi vì anh là một trong những người tổ chức họp báo hàng ngày ở MACV trước đây.
-PV: Có thay đổi nhiều lắm sau chiến tranh không?
-Murray: Tôi ngỡ rằng cái xa lộ từ thành phố Sài Gòn cũ (nay chính thức là TP Hồ Chí Minh) tới Vũng Tàu rồi sẽ giống như cái xa lộ New Jersey Turnpike ở ngoại thành New York. Và cái con đường tới Long Bình và Biên Hòa cũng như vậy. Cái quang cảnh mà chúng ta đã biết thì nay đang biến mất. Những căn cứ tiếp vận của Không Quân và Lục Quân của chúng ta ở Biên Hòa và Long Bình đã chuyển thành một khu phức hợp kỹ nghệ khổng lồ với những kỹ nghệ nặng và nhẹ.
-PV: Ông có nhận ra cái căn cứ tiếp liệu cũ ở Long Bình không?
-Murray: Tại cổng Long Bình tôi chợt tưởng như là mình chưa từng bao giờ thấy nó. Khi tôi là Chỉ Huy Trưởng Tiếp Vận của MACV trong thời gian chiến tranh, tôi bay ra bay vào căn cứ thường xuyên. Sự yên lặng và không hoạt động ở đó thật tương phản với ký ức của tôi về những tiếng chong chóng của máy bay trực thăng, những tiếng gầm rú của những chiếc xe tải, những chiếc xe jeep vội vã, những tiếng nhạc, radio từ những máy stereo trong PX,và những chuyển động dồn dập của những người lính. Tôi phải tự nhủ rằng, “Ðây chính là Long Bình đó.” Thật đáng tiếc nó bây giờ là một cái bãi tha ma của quân đội với đủ thứ phế liệu nằm rải rác, lộ thiên - với những thùng conex của Không Quân, Lục Quân, tất cả đều được khóa bằng xích và ổ khóa. Không có gì chuyển động. Nhưng thật là tức cười, nó vẫn còn là của Mỹ. Ðể cho nó trông có vẻ giống như những cái mà chúng ta thường thấy ở ngoại ô những thành phố lớn của Mỹ là cần có thêm xác những chiếc xe hơi cũ và một con chó hoang. Tôi được giới thiệu với người chỉ huy trưởng, một đại tá quân đội không cho biết tên. Tôi hỏi ông ấy tại sao từ chối cho biết tên, ông ta nói, “Ông sẽ đưa nó cho (Tổng Thống Bill) Clinton.” Nó làm cho tôi nhận ra rằng vẫn còn có sự xa cách trong sự hiểu biết giữa hai quốc gia. Tất cả các nhân vật hàng đầu của họ đều là quân đội, họ không hiểu rằng những cơ hội cho một ông tướng hồi hưu ở Washington gặp gỡ vị tổng thống cũng chẳng khác gì việc gặp gỡ con chim cánh cụt ở sa mạc Gobi.
-PV: Tôi cho rằng người Việt Nam nhìn chúng ta như chúng ta bị phản chiếu trong tấm gương của riêng họ, và chúng ta cũng làm như thế khi chúng ta nhìn họ - dù rằng cả hai cái gương của chúng ta đều đã rạn nứt.
-Murray: Cái hình ảnh về chúng ta mà họ có cũng có thể vì những sự kiện từ Băng Tần Truyền Hình số 1 của CNN ở Sài Gòn. Trong một quốc gia mà mọi giới chức đều không phải bầu cử, họ tự hỏi ông tổng thống được bao nhiêu người ủng hộ khi nói chuyện với công chúng. Vị tổng thống là một hình thức quảng cáo tốt cho các xí nghiệp kiểu Mỹ.
-PV: Tôi khá hiểu biết về người Việt nên có thể nói rằng họ chẳng mất công lái xe đưa ông đến Long Bình chỉ để ngắm cảnh.
-Murray: Ðúng vậy. Một phụ nữ nhỏ bé mặc chiếc quần đen được gọi đến. Bà là người lao công với một chùm chìa khóa còn nặng hơn cả người bà. Bà mở khóa một trong những nhà kho cũ của chúng ta. Tôi thấy mình như đang bị hóa thân. Như một cơn ác mộng. Không có những bóng đèn neon cũ, cái nhà kho thật tối tăm, và tôi phải mất một lúc lâu mới điều chỉnh được đôi mắt. Trong số hàng đống vật dụng của Thủy Quân Lục Chiến có vào khoảng 25 thùng gỗ trông rất quen thuộc, có khóa dưới chân, với khoảng 100 khẩu súng M-15 mỗi thùng. Họ yêu cầu tôi lựa đại một thùng. Tôi đã làm, và nó đã được trét mỡ bò như khi chúng ta bỏ lại và vẫn còn tốt.
-PV: Họ muốn bán lại tất cả những súng cũ của chúng ta cho chúng ta?
-Murray: Ðúng, nhưng còn hơn thế nữa. Các súng M-15 chỉ là một sự giỡn chơi thôi. Họ muốn bán 50,000 khẩu súng M-16 với giá 176 Mỹ kim một khẩu.
-PV: Ðó là cái giá trời ơi cho một khẩu súng M-16 loại cũ. Loại súng mới M-16A2 mà chúng ta có hiện nay hiệu quả gấp hai lần và không có những sai sót như loại súng nguyên thủy. Ðó không phải là cái giá hợp lý. Tôi được biết người Trung Quốc bán một khẩu AK-47 chỉ có 50 Mỹ kim thôi.
-Murray: Hoàn toàn đúng. Nhưng với những sự hạn chế về súng trường bán tự động của chúng ta, việc mua không thể nào vào Mỹ dù cho nó có được cái giá phải chăng đi nữa. Ngoài ra còn có một vài vấn đề pháp lý, bởi vì khi chúng ta xuất những vũ khí đó cho Miền Nam Việt Nam, chúng ta có một điều khoản là chúng phải được hoàn trả lại cho chúng ta nếu chúng không được dùng vào những mục đích dự liệu. Nhưng tôi chắc rằng họ có thể cho rằng chúng là những phế liệu chiến tranh.
-PV: Ðó có phải là một sự mỉa mai không? Thật là đáng xấu hổ. Họ ngon ngọt cho chúng ta cái cơ hội mua lại những gì họ đã lấy với cái giá quá cao như thế. Như vậy chẳng khác gì một tên ăn cướp đi điều đình với chính người mà nó đã cướp đoạt?
-Murray: Ðó là chiến tranh. Nó tạo ra nhiều hành động hợp pháp, nhất là nếu bạn là người chiến thắng.
-PV: Thế còn những tài sản khác mà chúng ta để lại thì sao? Họ cũng có muốn bán nó không? Là cựu chỉ huy trưởng Vùng 4 Tiếp Vận, bao gồm cả “Tân Cảng” của Sài Gòn, ông có dịp đi thăm các cơ sở cũ trong các chuyến tham quan mới đây không?
-Murray: Một vị đại úy hải quân tên Vũ Trí Viễn và một nhân viên hải quân đang điều hành cái mà chúng ta đã xây cất lên, nó vẫn mang tên là Tân Cảng (Newport). Nó là một trong những doanh nghiệp thương mại của quân đội họ. Và nó cũng bận rộn y như ngày xưa của chúng ta, neo cột đầy những tàu chứa containers. Ông ta chỉ cho tôi đầy vẻ biết ơn, làm như tôi là người hiến tặng chính đại diện cho quân đội Mỹ, cái cần cẩu nổi 100 tấn đang đong đưa cái móc to lớn gần cái bờ kè bốc dỡ nơi mà chúng ta thường bốc dỡ một cách nhanh chóng trước đây. Viễn đã làm tôi ngạc nhiên khi nói, “Ông có thể giúp cho tôi.” Tôi hỏi, “Giúp làm sao?” Ông ấy nói, “Các ông để lại tất cả mọi thứ để cho bến cảng hoạt động ngoại trừ những đồ án xây dựng nó. Chúng tôi muốn đưa vào cái cần cẩu 300 tấn, nhưng chúng tôi không biết cái độ sâu của những cái trụ đỡ. Chúng tôi cần biết chúng ở độ sâu bao nhiêu.” Do vậy tôi đã liên lạc với Tướng Jack Fuson, người đã chỉ huy xây dựng Tân Cảng. Vị tướng đã cho biết, “Tôi đã có mặt ở đó khi họ chôn các trụ đỡ. Các kỹ sư đã không thể nào xuống tới đáy. Vì vậy họ mới thực hiện những ‘trụ nổi’ xuống sâu khoảng từ 150 tới 170 feet (khoảng 45 tới 50 mét).” Tôi đã fax những thông tin này cho đại úy Viễn và sau đó đã nhận được một sự cám ơn rất nhiệt tình.
-PV: Ông cũng đã chỉ huy căn cứ tiếp vận ở Vịnh Cam Ranh. Ông có cơ hội thăm lại cơ sở đó trong chuyến đi của ông không?
-Murray: Cam Ranh làm tôi ngạc nhiên vì sự trống vắng và im lặng của nó. Không có gì chuyển động ở trên mặt nước hay ở trên không. Vẻ yên bình của nơi này đã quá rõ ràng. Ðây là một trong những hải cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới. Chúng ta đã từng có cùng một lúc 63 chiếc tàu vượt đại dương ở trong vịnh. Ðó là nơi những chiếc tàu dầu của chúng ta thường tiếp tế nhiên liệu cho những bồn chứa và các đường ống dẫn dầu. Nơi đây, bên trong hải cảng, với những rặng núi ngăn bão, các kỹ sư của chúng ta đã xây dựng một cái trục xoay cho cái hệ thống liên hợp container đầu tiên. Và các kỹ sư cũng đã mang đến những cái cầu tầu DeLong lưu động, nơi mà các tàu chở containers Sea Land neo bến. Ðây chính là nơi cuộc cách mạng về containers đã khởi đầu. Nơi đó từng có rất nhiều tiếng gầm rú và âm vang như sấm ở Cam Ranh. Nhưng nay tất cả đều yên lặng.
-PV: Tôi nghe nói Hải Quân Nga đã sử dụng căn cứ Vịnh Cam Ranh mà.
-Murray: Cam Ranh là nơi hạm đội Nga đã ghé tiếp thêm than vào năm 1904 trước khi trở ra biển và bị đánh đắm bởi hạm đội Nhật tại eo biển Ðối Mã (Tsushima) đánh dấu cho toàn thế giới biết rằng Nhật đã là một cường quốc. Bây giờ không thấy có một chuyển động nào từ các tầu ngầm và chiến hạm của Nga hay của hải quân Việt Nam. Thật là một tình trạng không thể nào tin được. Tại Ba Ngòi, khu vực thương mại không sâu của vịnh, tôi đã lên một chiếc tầu chở cát của Nga dưới cờ hiệu Ðại Hàn. Nó đang chứa 12,000 tấn cát mịn silicon dùng để làm thủy tinh.
-PV: Còn có những dấu hiệu nào khác về sự hiện diện của người Nga không?
-Murray: Có chứ, nhưng bạn phải đi tìm kiếm nó. Người Nga có một liên doanh sản xuất dầu ở mỏ Bạch Hổ tại Việt Nam trong biển Trung Nam Hải (tức Biển Ðông). Ðó là cái mỏ duy nhất đang sản xuất. Người Nga đã xây các đập nước và các nhà máy điện và cung cấp sự giám sát việc sản xuất và truyền tải điện. Tại Vũng Tàu, người Nga đã cung cấp một loại tầu tốc hành để gia tốc việc di chuyển trên sông tới Sài Gòn hầu tránh việc trở ngại lưu thông trên đường bộ. Tôi đã được xem xét một ngày các tầu bốc dỡ hàng, chất hàng và chờ đợi cập bến ở Sài Gòn. Có tất cả 53 tầu. Hai mươi sáu phần trăm là của người Nga. Tại cái ụ tầu ở xưởng Ba Son của hải quân Việt Nam Cộng Hòa cũ, 70 phần trăm các tầu ở đó là của Nga hoặc Ukraina. Do đó, với những liên hệ về dầu khí, điện lực, tầu bè và sửa chữa tầu, đó là những bằng chứng nhiều nhất về sự có mặt của người Nga ở Việt Nam.
-PV: Nói về cơ sở hạ tầng kinh tế, hệ thống chuyên chở và đường sá đã được cải thiện như thế nào ở Việt Nam?
-Murray: Các xe bò vẫn còn hoạt động. Việt Nam chỉ rộng bằng cỡ tiểu bang New Mexico. Hãy thử xem xét toàn cảnh, Việt Nam có khoảng 66,000 dặm đường bộ. New Mexico có khoảng 61,000. Nhưng tất cả các con đường ở New Mexico đều có mặt cứng, được đổ bê-tông hoặc tráng nhựa. Trong khi đó chỉ có khoảng 12 phần trăm đường bộ của Việt Nam được trải nhựa một phần hoặc toàn phần mà thôi, và rất nhiều trong số đó được làm bởi các nhân viên dân sự hoặc các kỹ sư công binh Mỹ trước đây.
-PV: Tôi nhớ lại rằng công ty xây dựng dân sự RMK-BRJ đã sử dụng một số nhựa đường đủ để có thể làm một con đường dài 5,000 dặm từ Sài Gòn tới Paris.
-Murray: Có khá nhiều anh hùng trong số các nhân viên tiếp vận của chúng ta ở Việt Nam chưa hề được ca ngợi. Họ chưa được vinh danh trên Bức Tường Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, mặc dù RMK-BRJ đã có 52 nhân viên dân sự bị chết trong khi làm nhiệm vụ và 248 người khác bị thương vong bởi hoạt động của kẻ thù. Giới truyền thông làm ầm ỹ về việc chúng ta đã làm hư hại đất nước vì giội bom. Họ chẳng quan tâm đến việc chúng ta đã cải thiện nó như thế nào và những sự cải thiện của chúng ta ngày nay đang được sử dụng như là những cơ sở hạ tầng ra sao.
-PV: Tôi hiểu điều đó, như là một phần của việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho Việt Nam, người ta đang có một chương trình sử dụng các con đường mòn Hồ Chí Minh cho việc phát triển kinh tế trong thời bình.
-Murray: Lenin đã từng định nghĩa chủ nghĩa cộng sản như là “chủ nghĩa xã hội cộng với điện khí hóa,” nên cái mà Miền Nam cần để gia tăng tổng sản lượng chính là điện lực. Ðang có một sự mở mang mới sử dụng Ðường Mòn Hồ Chí Minh để nối liền đất nước này xuôi theo những ngọn núi trong dãy núi Trường Sơn. Một mạng lưới điện từ đập nước Hòa Bình ở phía tây Hà Nội kéo dài khoảng 1500 km về phía nam. Và nó đang tiếp tục được thực hiện...
-PV: Tôi biết rằng ông rất cay đắng, và cả tôi cũng vậy, về cách mà chiến tranh chấm dứt. Ông có bao giờ có ý định quay trở lại không?
-Murray: Cách đây hai mươi năm, tôi có thể đã trả lời một cách khác. Hai mươi năm trước tôi đã muốn có một trận tái chiến. Nhưng ngày nay tôi nhìn vào sự liên hệ của Hoa Kỳ như một sự tái tuyên hứa vì lợi ích của tự do. Tự Do là điều không thể chia cắt. Tự do của thị trường rồi sẽ lây lan. Nó có thể còn thành công hơn là các B-52. Nếu tôi nhớ không lầm, kinh tế gia John Kenneth Galbraith trong cuốn sách A Journey Through Economic Time (tạm dịch là Hành Trình Qua Thời Ðiểm Kinh Tế) xuất bản năm 1994, đã nói, cái mà ông gọi là “Sự Mầu Nhiệm Không Chắc Chắn” có thể sẽ xảy ra. Nó sẽ xảy ra ở Việt Nam.
-PV: Cám ơn những chia sẻ của ông về Việt Nam. Ðối với một số người Mỹ, Việt Nam là một ác mộng. Ðối với một số khác thì đó lại là một thế giới nhiệt đới đáng mơ ước. Ðối với một số khác nữa, đó là một sự phản bội tệ hại. Ông đã cho chúng tôi một bức ảnh rất hiện thực.
Toàn Như

[dịch từ “Reflection On A Lost War,” bài phỏng vấn Trung Tướng (hồi hưu) John E. Murray bởi Ðại Tá (hồi hưu) Robert L. Burke trong www.HistoryNet.com và www.VietnamMag.com]



Nhiều người Việt Nam nhận xét ông Leon Panetta tỏ ra là một người thân thiện, với nụ cười thoải mái.

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

HỒI KÝ TRONG LÒNG ĐỊCH. TRẦN TRUNG QUÂN

http://haylentieng.org/hoi-ky-trong-long-dich-tran-trung-quan.htm

HỒI KÝ TRONG LÒNG ĐỊCH. TRẦN TRUNG QUÂN

Hồi Ký Trong Lòng Địch - Trần Trung Quân, do Quan Hưng diễn đọc
Đây là hồi ký của môt chiến sĩ ( ẩn danh) Việt Nam Cộng hòa đã nằm vùng tại Cụv R của VGCS đặt tại Miền Nam Việt Nam suốt 10 năm. Trong bài viết này tác giả tố cáo những liên hệ chặt chẻ giữa PG Ấn Quang và bọn việt gian Cộng Sản trong âm mưu khủng bố, phá hoại, giết dân lành, giết sư tăng như trường hợp của HT thích Quảng Đức để tăng gia phá rối xã hội Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa rói vào tay Cộng Sản.

BAO GIỜ ĐẢNG THÔI NÚP BÓNG HỒ CHÍ MINH? VIV MARSH



Viv Marsh

Chủ biên trang Châu Á - Thái Bình Dương của BBC World Service
Một buổi sáng âm u tại Hà Nội, một hàng người trải dài hàng trăm mét. Các phụ nữ bận áo dài, học sinh trong các bộ đồng phục chen nhau, những khuôn mặt đàn ông im phăng phắc bên cạnh một vài khách du lịch phương Tây có vẻ mặt tỉnh táo.
Họ đều đang chờ đợi để diện kiến lãnh tụ của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh - mặc dù ông đã mất được 43 năm.
Đối với du khách, hình ảnh không phai nhạt của Hồ Chí Minh có thể là điều mà chính ông không bao giờ muốn thế – những hàng người xếp dài lê thê, chậm chạp đi qua các công đoạn kiểm soát an ninh, nhưng rồi lại chỉ có một vài giây đi ngang qua thi hài được ướp của vị lãnh tụ.
Bản thân Hồ Chí Minh từng mong muốn được hỏa táng.
Kỷ niệm ngày sinh thứ 122 của vị cố Chủ tịch năm nay, ngày 19 tháng Năm, đã được đánh dấu bằng một cuộc triển lãm các tư liệu về Hồ Chí Minh ở tỉnh Thái Nguyên và việc ra mắt một cuốn sách dịch về tiểu sử của ông khẳng định vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản.
Cuốn sách mang tên "Hồ Chí Minh – Ông tiên sống mãi."
Cuốn sách gồm 16 chương là một biên niên sử về cuộc đời và sự nghiệp của vị cố Chủ tịch. Sách do nhà hoạt động xã hội Thái Lan Suprida Phanomjong viết. Ông là con trai của một cựu Thủ tướng Thái Lan được cho là có quan hệ gần gũi với Hồ Chí Minh.
Trang mạng của nhà nước - Vietnam News nói tác giả đã "xúc động khi thấy nhân dân Việt Nam tôn thờ Hồ Chủ tịch như thế nào".
Dự lễ công bố bản dịch tiếng Việt của cuốn sách vốn ra đời lần đầu tiên 6 năm trước trước đây bằng tiếng Thái, có đại diện lãnh đạo Ban khoa giáo Trung ương Đảng, Vụ phó Vụ Báo chí - Xuất bản, Nguyễn An Tiêm.
Trang mạng của Đài Tiếng nói Việt Nam nói ấn phẩm đã được "kỳ vọng giúp nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức của Người, qua đó góp phần cho phong trào Học tập và Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh."
"Sự thể rằng ông đã sống một cuộc sống khá đạm bạc và rằng ông đã dành cả đời mình cho sự nghiệp của đất nước, tất cả những điều đó chính là những đức tính mà tất cả những người cộng sản muốn chia sẻ," bà Sophie Quinn-Judge, một học giả và người viết tiểu sử về Hồ Chí Minh nói.
"Nhưng vấn đề là tất cả có vẻ đạo đức giả và lỗi thời một chút vì ngày nay Đảng Cộng sản trong mắt của nhiều người Việt Nam không đại diện cho những phẩm chất đó.
"Nhiều người cộng sản đang trở nên giàu có, tham nhũng tiếp tục sinh sôi, nảy nở và lan tràn: nếu đây là thứ đảng lãnh đạo mà ông Hồ Chí Minh đại diện, thì nhân dân sẽ không thực sự muốn nhìn thấy nó nữa. "
'Núp bóng'
Mỗi em học sinh Việt Nam vẫn còn được giảng dạy về người đàn ông mà các em gọi là Bác Hồ. Ảnh chân dung của ông – với vẻ thanh thản và nhân từ, có ở khắp mọi nơi, ngay cả ở miền Nam, nơi vẫn còn sự cay đắng trong nhiều người thua trận.
Theo giới quan sát Việt Nam, hình ảnh của vị cố lãnh tụ vẫn không được phép là chủ đề biếm họa hay nhạo báng.
Ở phương Tây, và trong nhiều người Việt lưu vong, Hồ Chí Minh thường được coi như là một người theo chủ nghĩa Stalin cứng rắn và một người chống chủ nghĩa đế quốc.
Nhưng ở Việt Nam, thậm chí những người gièm pha ông cũng thừa nhận rằng Hồ Chí Minh ít cực đoan hơn những nhà lãnh đạo Cộng sản khác - và rằng ông trong một số tình huống còn bị những người khác trong Đảng coi là quá sẵn sàng thoả hiệp.
"Ông không quan tâm quá nhiều đến đấu tranh giai cấp," bà Sophie Quinn-Judge nói. "Về cơ bản, ông là một người tin vào công bằng xã hội nhưng không tin vào một thứ cộng sản chủ nghĩa thiêu đốt mọi thứ.

"Đảng hiện vẫn đang muốn núp bóng ông càng lâu càng tốt. Và chính sự thiếu công khai và minh bạch này đang làm cho họ gặp rắc rối," bà nói.



Đảng Cộng sản hiện nay vẫn dùng hình ảnh cố lãnh tụ để củng cố tính chính danh



Hồ Chí Minh và Vợ, Con.

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

MỜI ĐỌC "HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH".

THỤY KHUÊ: NÓI CHUYỆN VỚI GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

https://docs.google.com/file/d/1o5NeqNLJrgr0Lnfw4SNtaZ7KnDdVJsM7sLuijHp0vEMUibF6ZBg3qctrWf9B/edit?pli=1


HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH


https://docs.google.com/file/d/1_eMyQY3eclhgAhk7tPWy0ZHpp0-RaAayFXiKCRlpOxmPFQQuJ3RCaUdm-7-W/edit



(Trích hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh. Trang 130)



- Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra
nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?

Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình báo cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người bán nước mắm, từ Nghệ An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.
Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái, sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.
Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.


Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho

Nguyễn Tất Thành đi Pháp.


- Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?


Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh

hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài

liệu: khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có

đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát

với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa

chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được).

Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi,

thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên

đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá

Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

Xem chừng Hồ Chí Minh thích tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên

hơn. ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây,

Trung Quốc. Và “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu cách mạng

của Tôn Trung Sơn.


Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến:

Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị

sớm quá! ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt

Nam chính thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với nước mình.

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

KẺ THÙ CỦA NHÀ NƯỚC. MEIKE FRIES

Kẻ Thù Của Nhà Nước

(Meike Fries/Phạm Thị Hoài (pro&contra) dịch)

http://www.procontra.asia/?p=624

on June 2, 2012 6:29 AM

Họ ngồi lặng lẽ trong một quán cà phê giữa Sài Gòn ồn ào. Họ chờ tin về một người bạn, Bùi Chát. Anh lại vừa bị bắt. Đại sứ quán Thụy Điển đã mời anh ra Hà Nội dự một buổi lễ. Đó chỉ là một chuyến bay nội địa, nhưng Bùi Chát không đến được Hà Nội. Công an bắt anh ngay tại sân bay TP Hồ Chí Minh[i]. Anh bị giữ từ lúc đó. Đây là lần thứ hai anh bị bắt, trong vòng vài tháng[ii].
“Bây giờ là tròn 24 tiếng Bùi Chát bị giữ”, Lý Đợi nói vào không gian im lìm. Ngoài họ không có khách nào trong quán. Nhạc không mở. Với hàng ria mép và áo thể thao tân cổ, Lý Đợi, 33 tuổi, bạn chí cốt của Bùi Chát, 32 tuổi, trông không khác những thanh niên ở Berlin-Mitte[iii]. Hai người sống chung nhà tại TP Hồ Chí Minh, thành phố lớn nhất và là trung tâm kinh tế Việt Nam. Họ viết thơ về tình yêu, tình bạn và về tự do, ước mơ của họ. Những bài thơ khi tục, khi thô, khi đau đớn và buồn da diết. Ở Việt Nam, họ thuộc giới tiên phong của một thế hệ trẻ không muốn dính dáng gì đến nền văn học cộng sản với những phấn khởi chào mừng vô tận.
Tôi trò chuyện với những người cộng sản
Những người anh em
Những người muốn chăn dắt chúng tôi
Luôn biến chúng tôi thành đồ hộp
Hy vọng chúng tôi đời đời biết ơn[iv]
Chế độ cộng sản thống trị tại Việt Nam kiểm soát chặt chẽ mọi phương tiện truyền thông. Các mạng xã hội như Facebook và Twitter đều bị chặn. Chỉ Trung Quốc mới vượt qua Việt Nam trong kỉ lục tống blogger vào tù mà không cần một phiên tòa tử tế. Không hiếm khi họ bị giam giữ nhiều năm ròng, tuyệt đối không được liên lạc với thế giới bên ngoài. Thậm chí ở nơi công cộng, tụ tập từ bốn người trở lên mà không xin phép cũng bị cấm. Trong con mắt của chính quyền, hai chàng trai làm thơ này là một cái gì nguy hiểm cho trật tự chính trị. Nhà nước theo dõi và đe dọa họ, các tác phẩm của Lý Đợi và Bùi Chát không được bày trong các cửa hàng sách. Đối với Bùi Chát, tên thật là Bùi Quang Viễn, chính quyền tỏ ra đặc biệt lưu ý. Mười năm trước, anh sáng lập nhóm Mở Miệng và Nhà Xuất bản Giấy Vụn. Cho đến nay, NXB Giấy Vụn đã phát hành khoảng 40 đầu sách, trong đó có những tác phẩm như Trại súc vật của George Orwell mà ở Việt Nam bị cấm và 5 tác phẩm của Bùi Chát. Sách được làm từ những bản photocopy thông thường và sau đó phân phát tại những buổi đọc văn tự phát, thông tin qua tờ rơi hay tin nhắn bằng điện thoại di động.
Chúng ta có mặt nơi đây không phải để khóc
Không phải để cân nhắc
Im lặng
Rồi quay đầu
Trong ánh sáng đục ở quán cà phê, bạn bè Bùi Chát kể cho tôi nghe về cuộc sống của họ, các văn nghệ sĩ, tại một đất nước không có tự do tư tưởng. Người trẻ nhất mới ngoài hai mươi, sinh viên báo chí; người nhiều tuổi nhất đã trên bảy mươi, là một tác giả từng sống nhiều năm tại Canada. Họ đều ủng hộ nhóm Mở Miệng. Họ bảo, tất cả đều vô ích: học báo chí cũng vô ích, viết thơ cũng vô ích, dịch sách cấm cũng vô ích. Nhưng biết đâu. Biết đâu một ngày nào đó chế độ này tận số, như ở nhiều nước khác.
Ở nước ngoài, hoạt động của Bùi Chát cũng đã có tiếng vang. Vì sự can đảm đương đầu với chính sách kiểm duyệt của nhà nước, Trung tâm Văn bút Thụy Điển đã chọn anh làm thành viên danh dự. Năm ngoái, anh được Hiệp hội Xuất bản Quốc tế IPA trao Giải thưởng Tự do Xuất bản. Lễ trao giải diễn ra tại Hội chợ sách Buenos Aires. IPA đã giữ kín thông tin này, trước khi anh rời khỏi Việt Nam. Nhưng khi về nước, anh bị công an bắt và tạm giam 48 tiếng đồng hồ. Các tập thơ anh mang theo, giải thưởng và bằng chứng nhận đều bị tịch thu. Như thể bằng cách đó thì coi như xóa được sự vinh danh ấy.
Lý Đợi bật dậy khi điện thoại di động của anh reo và cầm máy chạy ra ngoài. Ngay sau đó anh quay vào, như trút được gánh nặng: “Bùi Chát được thả rồi!”
Hôm sau, Bùi Chát đợi tôi trong căn phòng khuất ở một quán cà phê nhỏ ở khu phố Tây ba lô Phạm Ngũ Lão, từ ngoài nhìn vào không thấy. Quần bò, áo phông, trông anh cũng như mọi người ở khu Phạm Ngũ Lão này. Anh chỉ nói được một chút tiếng Anh, nên có hai người bạn đến phiên dịch giúp. Tuy còn mệt vì vụ bắt giữ hôm qua, Bùi Chát rất nhã nhặn, gần như rụt rè. Anh cân nhắc trước khi nói, và rất lựa lời.
“Họ nhắc đi nhắc lại các biên bản từ những cuộc thẩm vấn trước đây và lặp lại toàn các câu hỏi giống nhau”, Bùi Chát kể. “Ai đứng đằng sau các anh, ai tài trợ? Mở Miệng có quan hệ với những nước nào? Có liên lạc với những văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư nào?” Rồi họ cho anh xem những văn bản luật pháp và bảo rằng in sách không có giấy phép của nhà nước là bị nghiêm cấm. Bùi Chát cho biết, anh đã quen với những vụ “làm việc” như vậy với công an ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nỗi sợ vẫn thường xuyên rình rập.
Cách đó không lâu, anh về thăm gia đình, cách Sài Gòn 40 cây số. Hai giờ đêm, cha mẹ gọi anh dậy, thì thào: Có mấy người sục vào nhà. Bùi Chát lẻn cửa sau qua nhà hàng xóm, trốn ở đó đến sáng hôm sau. Cha mẹ anh bị thẩm vấn suốt đêm. Hai ông bà chối là con trai không về thăm nhà. “Cả nhà rất sợ. Công an ở địa phương ác lắm”, Bùi Chát kể.
Những người anh em
Vẫn lừa lọc chúng tôi
Vẫn tước đoạt ánh sáng, giọng nói của chúng tôi
Vẫn dọa dẫm chúng tôi
Bằng súng và thực phẩm
Ở Việt Nam, kẻ thù của nhà nước là các nhà văn nhà thơ trẻ tuổi viết thật tư tưởng của mình. Việc có những tác giả vượt qua hàng rào kiểm duyệt của nhà nước bằng cách tự in sách khiến chính quyền lo ngại. “Họ cũng không muốn tôi được thế giới biết đến nhiều hơn”, Bùi Chát nói, “vì họ sợ những người Việt Nam khác sẽ làm theo tôi và phát biểu thật quan điểm của mình. Chế độ sợ một phong trào.”
Bùi Chát đang học luật, anh hi vọng kiến thức luật pháp có thể sẽ giúp anh tự vệ trước các cơ quan quyền lực. Anh hi vọng Việt Nam sẽ thay đổi, ý thức về pháp luật và công bằng xã hội sẽ hình thành. Hiện giờ thì điều đó còn rất mỏng manh. “Tôi muốn những người cầm quyền hành xử hợp pháp và tôn trọng luật pháp. Họ không được quyền tùy tiện làm theo ý họ. Nhưng muốn được như thế thì người dân phải biết rõ quyền của mình.”
Nhưng học luật để làm gì, khi nhà nước kiểm soát tất cả? “Ở đây cũng vẫn có tự do”, Bùi Chát nói, “vấn đề chỉ là phải biết giành lấy nó. Phải đi tìm những nguồn độc lập. Internet là một phương tiện đặc biệt quan trọng.” Vì chính quyền không cho họ một lựa chọn nào khác. “Ngay ở trường đại học cũng vậy, cả ngày sinh viên bị nhồi nhét toàn thông tin sai sự thật và lừa mị. Chẳng qua chỉ để duy trì chế độ.”
Có lẽ Bùi Chát sẽ chẳng bao giờ được làm nghề luật sư, vì sinh viên đã tốt nghiệp khoa luật còn phải qua một khóa đào tạo của Bộ Tư pháp mới được cấp chứng chỉ hành nghề. Bùi Chát quen một số luật gia không hề được cấp chứng chỉ, dù đã tốt nghiệp xuất sắc và qua khóa đào tạo đó. Một số người trong đó thậm chí đang ngồi tù không án. Tuy nhiên, Bùi Chát vẫn hi vọng được hành nghề luật sư sau khi tốt nghiệp. Anh muốn lấy đó làm nghề nuôi hoạt động văn chương và xuất bản độc lập của mình. “Không phản kháng thì chẳng bao giờ có tự do”, anh nói và rời khỏi quán cà phê. Ra đường, đội mũ bảo hiểm, và lên xe phóng đi. Có thể chiếc mũ bảo hiểm ấy sẽ cứu mạng anh đêm nay.
Anh đến ăn mừng với bạn bè vì anh vừa được thả. Trên đường về nhà, có bốn người đàn ông đi xe máy bám theo anh. Anh dừng xe, hỏi vì sao. Không một lời đáp, họ đánh anh vào ngực, vào lưng và rất nhiều lần vào đầu. Vài ngày sau, Bùi Chát gửi email cho tôi, thông báo. Một trong số những người đó bảo: “Mày còn thò mặt đến con hẻm này thì chúng tao giết.”
Bùi Chát sống ở chính con hẻm đó.
Nguồn: Meike Fries: “Der Staatsfeind”, tạp chí Zeit Campus số 2 (tháng 3&4 2012) của tuần báo Zeit, trang 70-73
Phạm Thị Hoài
Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra
[i] Bùi Chát bị bắt giữ tối ngày 05.6.2011 tại sân bay Tân Sơn Nhất, khi anh chuẩn bị lên máy bay ra Hà Nội dự lễ kỉ niệm Quốc khánh Thụy Điển ngày 06.6.2011 theo lời mời của Tòa Đại sứ Thụy Điển tại Hà Nội. (Các chú thích trong bài đều của người dịch.)
[ii] Bùi Chát bị bắt giữ lần thứ nhất ngày 30.4.2011 tại sân bay Tân Sơn Nhất, khi anh vừa nhận Giải thưởng Tự do Xuất bản của Hiệp hội Xuất bản Quốc tế IPA ở Buenos Aires trở về.
[iii] Berlin Mitte: Quận ở trung tâm phía Đông Berlin, với nhiều văn nghệ sĩ, người nước ngoài, khách du lịch.
[iv] Các đoạn thơ dẫn trong bài đều trích từ tập Bài thơ một vần của Bùi Chát, NXB Giấy Vụn, 2009

BẠO LỰC. TƯỞNG NĂNG TIẾN


Sat, 06/02/2012
S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Năm 2010, báo Dân Trí đi tin:
“Rạng sáng nay 7/6, người dân xã Hưng Đông, TP Vinh (Nghệ An) phát hiện một vụ cháy kinh hoàng: một người đàn ông cùng một chiếc xe máy bị thiêu cháy bên vệ đường...
Quan sát kỹ tại hiện trường, PV Dân trí nhận thấy nạn nhân bị đốt cháy gần thành than, không thể nhận dạng, bốc mùi khét lẹt... Chiếc xe máy bị đốt cũng chỉ còn trơ khung đen.Nhiều người cho rằng nạn nhân xấu số này ăn trộm chó bị phát hiện, bị đánh chết ở đâu đó rồi đưa ra cánh đồng này đốt xác.”
Hai tháng sau, cũng báo Dân Trí, lại có thêm tin nữa:
“Khoảng 17 giờ 30 phút chiều ngày 29/8, hai kẻ ăn trộm chó đã bị người dân xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) đánh chết....
Hai nạn nhân được xác định là Nguyễn Đình Dũng và Nguyễn Đình Hồng, cùng SN 1988, đều trú tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc. Vào giời nói trên, khi trời nhá nhem tối, người dân nơi đây nghe tiếng xe máy rú ga và tiếng chó sủa ầm ĩ. Lập tức dân ùa ra đường, chứng kiến cảnh hai thanh niên đi trên một chiếc xe máy đang kéo theo con chó chạy bạt mạng phía sau.
Bị người dân đuổi theo, hai thanh niên đã bỏ con chó lại nhưng vẫn bị chặn đánh. Rất đông người cùng tham gia đánh hai kẻ trộm chó khiến một người chết tại chỗ, một người chết trên đường đi cấp cứu. Chưa hả giận, người dân nơi đây tiếp tục đốt nốt chiếc xe máy cái xe máy tang vật...”
Riêng năm rồi – may thay – ở Nghệ An chưa ai bị đánh chết vì trộm chó, chỉ có một người bị đánh gần chết vì lý do tương tự – theo như tường thuật của báo Pháp Luật, số ra ngày 6 tháng 9 năm 2011:
“Nạn nhân là anh Phạm Văn Tấn giáo viên trường tiểu học Mã Thành (Yên Thành - Nghệ An). Hiện anh Tấn đang nằm điều trị tại bệnh viện 115 Nghệ An.Theo lời tường trình của anh Tấn trên báo VTC, khoảng 20h30 ngày 2/9, anh với một đồng nghiệp khác tên Thanh đi chơi ở nhà người bạn. Do chưa quen đường, trời tối nên bị lạc, sau đó hai anh định rẽ vào một nhà dân để hỏi thì bị người này nghi ngờ, hô hoán có kẻ câu trộm chó.
Chỉ một phút sau, hàng chục người dân chạy ra bao vây, dùng gạch đá, gậy gộc...tấn công. Lợi dụng trời tối, anh Thanh may mắn chạy thoát được còn anh Tấn lĩnh toàn bộ trận đòn. Chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius cũng bị người dân đốt cháy rụi.”
Ba người bị đánh chết, và một người suýt chết (ở Nghệ An) trong thời gian qua, đã khiến tôi liên tưởng đến những cái chết khác – thảm khốc và thương tâm không kém – cũng ở địa phương này, hồi giữa thế kỷ trước, chính xác là vào năm 1952, theo lời kể của nhà văn Võ Văn Trực:
“Một lũ ngồi lúc nhúc ở giữa vòng vây người nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa. Người xem đông quá là đông. Sóng người xô dồn lên, rồi dạt ra phía sau, rồi lại cuộn xoáy, ôm nhau, níu áo nhau. Không thể nào nghe được dân quân đang tra khảo tội nhân điều gì? Chỉ nghe nhứng tiếng quát lớn;’Mi có khai không? Mi có khai không?’ trộn lẫn với tiếng đấm đá huỳnh huỵch...”
“Tổ cha cái đồ phản động cái đồ Việt gian” – có tiếng người hét to như muốn vỡ ngực vỡ họng. Chính cái người hét to ấy đang ôm một gốc cây phi lao sần sùi mấu lao từ trên bức tường xuống như con mạnh thú vồ mồi, giơ cao gốc cây phang một cú vào ngực người bị treo ngược. Người bị treo rú lên một tiếng thất thanh và hai tay run rẩy như con nhái trước lúc chết. Thịch! Sợi dây đứt. Người bị treo ngược rơi xuống, sọ đập trên đất lổn nhổn cứt sắt... Người bị treo ngược bây giờ thành cái xác nằm sõng xoài trên đất ....”
(Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. California: Tạp Chí Văn Học, 2006)
Chuyện làng ngày ấy, và chuyện làng bây giờ – xem ra – không khác nhau nhiều lắm. Lòng “nung nấu căm thù, nóng rực như vòng lửa” được thổi bùng lên từ thời “cách mạng phóng tay phát động quần chúng” đến nay (có lẽ) chưa bao giờ tắt, ở Việt Nam.
Và cái ác, tất nhiên, không chỉ giới hạn ở ... làng. Cuối năm ngoái, blogger Cánh Cò đã ghi nhận hàng chục vụ án sát nhân xẩy ra chỉ trong một ngày – ngày 14 tháng 11 năm 2011 – qua thông tin báo chí trong nước:
Dân Việt 14-11: Thắt cổ chồng đến chết rồi ung dung đi ăn cưới. Bà Đỗ Thị Thơ, sinh năm 1976, dân tộc Kinh, trú tại xã Linh Hồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang chính là vợ của nạn nhân.
Bee.Net 14-11: Một người chăn bò bị chém chết tên Võ Văn Giới ngụ ấp 3, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ.
Lao Động 14-11: tại số nhà 228, thị trấn Trùng Khánh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã xảy ra một vụ cướp hết sức táo tợn làm chị Nông Thị Thu thiệt mạng và anh Đinh Trọng Thành bị thương nặng.
Lao Động 14-11: Vụ án giết bảo vệ, cướp ngân hàng xảy ra ở chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) Bình Đà, Thanh Oai, Hà Nội, bước đầu đã có những manh mối.
Bee.Net 14-11: Vì muốn báo thù anh Nguyễn Việt Cường, ở phường Nguyễn Văn Cừ, TP Quy Nhơn, Bình Định, giảng viên khoa Lịch sử Trường ĐH Quy Nhơn, mà Đặng Văn Cửu, 22 tuổi, ở xã IaYok, IaGrai, Gia Lai, sinh viên năm cuối trong trường, đã bắt cóc cháu Nguyễn Việt Dũng 8 tuổi, học sinh lớp 3 Trường tiểu học Ngô Mây rồi ra tay sát hại dã man.
Dân trí 14-11: Xảy ra mâu thuẫn, Bình vồ cán chổi bằng cây lao vào đánh tới tấp vào đầu chị Hà. Khi phát hiện nạn nhân gục hẳn, đối tượng này lạnh lùng đưa cô vợ “hờ” lên giường đắp chăn rồi tẩu thoát.
Thanh Niên 14-1: Hầu như đêm nào khoa Cấp cứu của các BV Chợ Rẫy, Nhân dân 115, Nhân dân Gia Định, Chấn thương chỉnh hình… cũng tiếp nhận những ca nhập viện do đánh nhau, đâm chém. Những đối tượng này thuộc nhiều lứa tuổi (khoảng 16 đến 40 tuổi). Theo các BS, tình trạng đả thương về đêm nhiều hơn ban ngày.
Tiền Phong 14-11: Lãnh đạo Trại giam A2, Bộ Công an, Diên Xuân, Diên Khánh, Khánh Hoà xác nhận, tối 8-11 một hạ sĩ quan của trại A2 là N.N.H đâm bị thương hai người tại khu nhà trọ.
Việt Báo: Ngày 15/11: Công an quận Thủ Đức, TP HCM đã đưa Kim Văn Bình về nhà trên đường 12 phường Tam Bình để thực nghiệm hiện trường hành vi sát hại dã man người chung chăn gối suốt nhiều năm.
TTXVN 14-11: Vụ giết người chỉ vì… điếu thuốc.
VietnamNet 14-11: Chân dung kẻ nghịch tử hiếp dâm em gái ruột.
VnExpress 14-11: Bà chủ thu đổi ngoại tệ bị sát hại tại nhà. Người đàn bà kinh doanh thu đổi ngoại tệ nằm chết trong bếp với 3 vết chém. Cạnh đó, người chồng bất tỉnh, cơ thể đầy thương tích.
Dân Việt 14-11: Nam sinh viên đâm chết người yêu cũ của bạn gái. Công an phường An Xuân, Tam Kỳ, Quảng Nam cho biết Nguyễn Đức Chiến, 21 tuổi, sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng Công kỹ nghệ Đông Á, TP Tam Kỳ, đã ra đầu thú về tội giết người.
Bạo lực không chỉ giới hạn ở tầm mức cá nhân mà còn được nhận rõ ở bình diện tập thể qua chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội. Trong việc trấn áp nông dân ở Văn Giang, blogger Hiệu Minh có nhận xét rằng đây chính là “bằng chứng sống về cách quyền địa phương đối với dân, coi dân như kẻ thù.”
Còn trong vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, Võ Thị Hảo nhận định như sau:
“Trong hành xử, những người này coi dân như nô lệ. Nô lệ phải gọi dạ bảo vâng, phải thờ chữ ‘nhẫn, phải dâng hiến cho họ (quan lại mới) quyền lợi chung riêng và ngay cả tính mạng. Cho sống thì được sống, bắt chết phải chết, không được quyền trái ý họ.”
Với chủ trương bao che và xử dụng bạo lực của giới cầm quyền, với khuynh hướng “sính” dùng bạo lực (được cổ súy và ấp ủ từ hơn nửa thế kỷ qua) của nhiều người dân Việt, viễn tượng về một cuộc giải phóng khỏi thân phận nô lệ hiện nay mà không phải đổ máu ra– xem ra – có vẻ rất mỏng manh.
Tối ngày 20/5/2012, tin từ Facebook Linh Phan cho biết:
“Trong lúc mình và 2 học viên Pháp Luân Công đang nhắm mắt tập công tại khu đất trống Lam Sơn, phường Linh Tây, Q. Thủ Đức thì bị 7, 8 người mặc thường phục xông vào đánh tới tấp. Họ dùng cây gỗ có cạnh vuông đập liên tục vào mình và 2 học viên khác, lúc đó mình không biết chuyện gì đang xảy ra.
Họ đánh quá mạnh nên mình bỏ chạy. Tài sản của mình và các bạn bỏ lại đó họ không lấy thứ gì nhưng điên cuồng đập phá, chiếc xe máy có chìa khóa ở đó họ cũng không lấy…
Tôi không biết những người Mặc thường phục vô cớ hành hung tôi là ai, tôi tha thứ cho tất cả họ.Tôi mong rằng họ đừng để ĐCSTQ lợi dụng, hãy để cho chúng tôi yên ổn tu luyện!
Thiện có thiện báo, Ác hữu ác báo ! Thần Phật đang nhìn tất cả chúng sinh. Đánh tôi ko hề gì, tôi tha thứ cho tất cả mọi người. Nhưng xin đừng để kẻ ác lợi dụng mà bản thân mình rơi vào Địa ngục!
Tôi tha thứ cho tất cả các bạn, tôi chân thành thương các bạn.
Xin đừng đánh đập các học viên Pháp Luân Công đang tu luyện theo nguyên lý Chân - Thiện - Nhẫn nữa!”
Câu hỏi được đặt ra là liệu dân Việt còn “nhẫn” được thêm bao lâu nữa? Và mức độ bạo loạn sẽ đi xa đến đâu khi dân tộc này đã bị đẩy đến mức giới hạn chịu đựng cuối cùng? Có ai quan tâm hay chuẩn bị gì không để người Việt có thể tránh khỏi, ngăn chận, hay giới hạn (ở mức độ khả kham) cho tình huống tồi tệ này – trong trong tương lai gần?
Những câu hỏi này – có lẽ – đã đặt ra hơi muộn, và không chỉ đặt ra cho những bậc thức giả, hoặc đám dân đen mà còn xin được trân trọng (và chân thành) gửi đến những người đang nắm toàn quyền sinh sát ở đất nước này. Qúi vị mới là những nhân vật quyết định số phận của toàn dân, và mạng sống cũng như tài sản của chính mình cùng thân nhân, trong những ngày tháng sắ́p tới.
Nguồn: Blog Tưởng Năng Tiến/RFA

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

CHUYỆN LÀM ĂN QUAN TRỌNG HƠN NHÂN QUYỀN Ở ĐÔNG NAM Á

01/06/2012
Asia Times

http://atimes.com/atimes/Southeast_Asia/NF01Ae02.html


Chuyện làm ăn quan trọng hơn nhân quyền ở Đông Nam Á

Tác giả: Roberto Tofani
Người dịch: Dương Lệ Chi
01-06-2012

Tăng trưởng kinh tế ấn tượng, việc mở cửa cho dân chủ ở Miến Điện và cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài ở phương Tây đã khôi phục sự quan tâm của Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU) ở Đông Nam Á sau một thập kỷ gần như bỏ bê. Nhưng liệu Washington và Brussels sẽ hy sinh sự vận động về dân chủ và nhân quyền lâu dài cho các lợi ích kinh tế và chiến lược mới?
Tầm quan trọng về địa chính trị gia tăng ở biển Đông, nơi Trung Quốc đang tranh giành và các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ gây tranh cãi với các nước láng giềng Đông Nam Á, đã giúp cho Mỹ tuyên bố “sự chuyển hướng” chiến lược tới châu Á. Nhiều nhà phân tích xem sự thay đổi chiến lược đó như là một nỗ lực để cân bằng ảnh hưởng ngày càng gia của Trung Quốc trong khu vực, bằng cách tranh thủ và bảo vệ các nước láng giềng Đông Nam Á.
Mỹ đã tránh công khai đứng về bên nào trong việc đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines trong tranh chấp bãi cạn Scarborough, nhưng Mỹ tuyên bố sự quan tâm của họ là tự do hàng hải trong vùng biển tranh chấp. Các cuộc tập trận hải quân giữa Mỹ và Philippines gần đây đã nhấn mạnh mối quan tâm này, trong khi làm cho Bắc Kinh oán ghét. Sự tham gia của Mỹ vào Miến Điện cũng được xem như một nỗ lực để cắt giảm sự ảnh hưởng của Trung Quốc ở đất nước giàu tài nguyên và có vị trí chiến lược này.
Mỹ và châu Âu có lịch sử trừng phạt hoặc chỉ trích mạnh mẽ các nước như Miến Điện và Việt Nam về hồ sơ nhân quyền tệ hại và thiếu tôn trọng quyền tự do dân sự cơ bản. Cả hai đều áp dụng phương pháp tiếp cận kép để khuyến khích thay đổi kinh tế và chính trị. Trong khi các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp sự giúp đỡ để kích thích tăng trưởng theo hướng thị trường, chính phủ ở các nước phương Tây đã đưa việc trợ giúp nhân đạo và phát triển để đổi lấy cải cách dân chủ đã được hứa hẹn.
Cách tiếp cận đó chỉ có hiệu lực một phần. Các nước Đông Nam Á thể hiện sự quan tâm rất ít trong việc cải thiện các quyền cơ bản, và thay vào đó, họ tập trung vào việc phát triển kinh tế thông qua các mối quan hệ thương mại và đầu tư với phương Tây. Gần đây, Trung Quốc đã giúp nhiều nước trong khu vực đa dạng hóa nền kinh tế của họ mà không đòi hỏi phải cải cách. Khi sự cân bằng kinh tế đó thay đổi, Mỹ và Liên minh Chấu Âu dường như làm nhẹ đi những lời kêu gọi của họ về các quyền phổ quát và gia tăng việc theo đuổi các thị trường mới.
Thật ra mà nói thì những lời kêu gọi đó vẫn còn. Lấy Việt Nam làm ví dụ. Hồi tháng hai, ông Kurt Campbell, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, phụ trách khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, đã nói với những người tiếp đón ông ở Việt Nam rằng, để nâng mối quan hệ song phương đã được cải thiện lên cấp độ mới, “sẽ đòi hỏi Việt Nam phải có một số bước tiến quan trọng nhằm giải quyết cả hai vấn đề: các trường hợp cá nhân gây quan ngại và các mối lo ngại về nhân quyền, cũng như các thách thức mang tính hệ thống liên quan đến tự do ngôn luận và tự do lập hội“.
Trong khi đó, các nhà chức trách Hoa Kỳ và Việt Nam đang hướng về Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mới – một hiệp ước tự do thương mại đa phương, nhằm mục đích tự do thương mại và đầu tư hơn nữa vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hiệp định Thương mại Song phương năm 2001 là cột mốc quan trọng hướng tới bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, và đã giúp thúc đẩy thương mại song phương tăng từ 3 tỷ đô la trong năm 2002 lên đến 18,6 tỷ đô la trong năm 2010, giúp Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của Hoa Kỳ, sau Trung Quốc.
Trong khi Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn coi Việt Nam là “một chính phủ độc tài”, được thấy rõ nhất trong chiến dịch đàn áp các nhà hoạt động và các blogger đang diễn ra, nhưng quan hệ thương mại không bị ảnh hưởng. Washington hành động một cách thận trọng về vấn đề bán các loại vũ khí tinh vi, một phần la do quan tâm đến nhân quyền, nhưng phần lớn là tránh một cuộc xung đột trực tiếp với Trung Quốc.
EU là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam và một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất. Năm ngoái, các nhà đầu tư châu Âu cam kết số tiền khoảng 1,8 tỷ đô la đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chiếm hơn 12% tổng số tiền FDI mà các nước đã cam kết đầu tư vào Việt Nam, theo các nguồn tin từ Việt Nam.
Để thúc đẩy hơn nữa về vấn đề nhân quyền, tuyên bố gần đây của EU nhắm đến là “ký một Hiệp định Đối tác Hợp tác mới giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu trong tương lai gần”, bà Catherine Ashton, Đại diện Tối cao của EU về chính sách an ninh và ngoại giao, và là Phó Chủ tịch Ủy ban [châu Âu], đã nói hồi cuối tháng 4.
Từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hồi năm 2007, và với sự gia tăng số lượng đầu tư rất lớn từ phương Tây, Việt Nam không còn được xem như một quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) ở Washington hay Brussels, mặc dù họ đang và liên tục lạm dụng các quyền con người.
Thay đổi sự ưu tiên
Có các mối lo ngại rằng lợi ích chiến lược và kinh tế đang lấn áp trong quan hệ với Miến Điện, một nước mà cả Mỹ lẫn EU vẫn duy trì [lệnh trừng phạt], nhưng gần đây đã tạm ngưng các biện pháp trừng phạt kinh tế đã được áp đặt lên đất nước này để chống lại chế độ quân sự. EU và Mỹ dường như đang tham gia vào cuộc chạy đua về đầu tư để theo kịp các nước châu Á, gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan, duy trì các mối quan hệ bình thường trong nhiều thập kỷ dưới sự cai trị của chế độ quân sự.
Ông Thein Sein, Tổng thống Miến Điện, là một trong những nhà cải cách chính trị, gồm cả việc phóng thích hàng trăm tù nhân chính trị, nới lỏng hạn chế phương tiện truyền thông và cho phép phe đối lập, do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, tham gia quốc hội, đã nhanh chóng nhận được sự khen thưởng của Washington và Brussels. Mỹ và EU đã lần lượt nới lỏng và tạm ngưng các lệnh trừng phạt của họ và cả Mỹ lẫn EU đang có kế hoạch gia tăng viện trợ phát triển cho đất nước này.
“Chúng tôi nói với các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Miến Điện và hãy làm điều có trách nhiệm“, Ngoại trưởng Hillary Clinton cho biết sau khi công bố lùi lại các biện pháp trừng phạt, sau các cuộc đàm phán với ông Wunna Maung Lwin, Ngoại trưởng Miến, ở Washington trong tháng này.
Những người Miến lưu vong, các cựu tù chính trị và các nhóm nhân quyền quốc tế từ lâu đã đấu tranh chống lại việc gỡ bỏ các lệnh trừng phạt mà không có tiến bộ nào có thể nhìn thấy được về tình hình nhân quyền trên đất nước này. Họ lưu ý, mặc dù có những phóng thích gần đây, hàng trăm tù nhân chính trị vẫn còn đang bị giam giữ.
Trong khi đó, có những báo cáo đáng tin cậy về sự lạm dụng của quân đội phổ biến rộng rãi và hiện đang diễn ra, chống lại các thường dân trong cuộc xung đột của chính phủ với phiến quân Kachin ở khu vực miền bắc Miến Điện. Và báo chí địa phương vẫn bị kiểm duyệt, chống lại việc đưa tin chỉ trích chế độ cũ hoặc chế độ hiện tại.
Mỹ và EU đã quyết định để bỏ qua những sự lạm dụng này và tập trung vào các vấn đề kinh tế. Nhắc lại lời kêu gọi của bà Clinton đối với các công ty Mỹ đầu tư vào Miến Điện, Đại Sứ quán Anh ở Yangon gần đây đã cho đăng tải “hướng dẫn làm ăn ở Miến Điện” nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng trong nước.
Trớ trêu thay, Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) sẽ tổ chức cuộc họp kế tiếp theo tại Yangon vào đầu tháng 6. Với những hạn chế của Miến Điện về các tổ chức xã hội dân sự và vẫn tiếp tục cho các nhà hoạt động và các nhà báo vào danh sách đen, rất ít có hy vọng về sự tiến bộ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN, một lộ trình đã được đề xuất xây dựng các quyền con người trong khu vực. Miến Điện sẽ làm chủ tịch 10 nước thành viên khối ASEAN lần đầu tiên vào năm 2014.
Trong quá khứ, Mỹ và EU ngăn cản Miến Điện làm thành viên của nhóm trong khu vực và thông qua các biện pháp trừng phạt của họ, sẽ tẩy chay bất cứ cuộc họp nào được tổ chức trên đất nước này. Bây giờ với sự thay đổi gần đây về các ưu tiên ngoại giao, Washington và Brussels dường như ngày càng sẵn sàng bỏ qua các mối quan tâm về nhân quyền và dân chủ để theo đuổi các lợi ích thương mại và địa chiến lược.
Trong khi kế hoạch có thể nhằm mục đích chống lại sự ảnh hưởng của Trung Quốc, nhìn xem vấn đề lạm dụng các quyền [con người] và việc tán dương các biểu hiện cải cách dân chủ theo cách khác, Mỹ và EU đang ủng hộ cách tiếp cận của Bắc Kinh một cách hiệu quả.
Tác giả: Ông Roberto Tofani là một nhà báo tự do và là nhà phân tích các vấn đề Đông Nam Á. Ông cũng là đồng sáng lập PlanetNext (www.planetnext.net), hiệp hội các nhà báo cam kết khái niệm “thông tin cho sự thay đổi”.
Nguồn: Asia Times