Thứ Hai, 2 tháng 5, 2022

Bài học từ cuộc chiến Ukraine cho nền dân chủ Việt Nam

Bình luận của Trần Mai Hạnh
02/5/2022

Bài học từ cuộc chiến Ukraine cho nền dân chủ Việt Nam

Hình minh hoạ: một người dân đọc báo có bài về cuộc tấn công của Nga vào Ukraine hôm 25/2/2022 ở Hà Nội 

https://www.rfa.org/++plone++rfa-resources/img/icon-zoom.pngAFP 

Tầm quan trọng của “trật tự thế giới dựa trên luật lệ"

Cuộc xâm lược của nước Nga do Tổng thống Nga Vladimir Putin phát động, tấn công vào Ukraine là ví dụ tiêu biểu cho thấy tầm quan trọng của việc củng cố một trật tự dựa trên luật lệ, trụ cột trung tâm trong “Tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP).

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quy định và luật pháp quốc tế đã được đưa ra để ngăn chặn các nước lớn thống trị các nước nhỏ hơn. Người ta hy vọng các quy định này có thể ngăn thế giới rơi vào một vòng xoáy xung đột thảm khốc khác, không chỉ ở châu Âu mà còn ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, chúng ta đang chứng kiến các nước độc tài, cụ thể là Nga và Trung Quốc, né tránh luật pháp quốc tế và sự ổn định của trật tự dựa trên luật lệ sau Chiến tranh thế giới thứ hai để tạo ra các phạm vi ảnh hưởng - trong trường hợp của Nga là việc mở rộng sang Ukraine và có thể là các khu vực khác tại Đông Âu. Thực tế này không chỉ phản ánh mối đe dọa an ninh liên quan đến Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), một liên minh quân sự ở “sân sau” của Moscow, mà nó còn cho thấy sự nguy hiểm của các nước dân chủ minh bạch, tôn trọng trên luật lệ, nhưng có chung đường biên giới với nước Nga độc tài của Putin, vốn được các nhà tài phiệt tham nhũng hỗ trợ. Những thực tế ở nước Nga cho thấy rằng chính phủ và hệ thống chính trị hiện tại của nước này không mang tính đại diện và không trao quyền tự do báo chí, ủng hộ nhân quyền hay cung cấp một chính quyền đại diện cho người dân. Quan trọng hơn, hệ thống của Nga không mang lại sự quản trị tốt và sự thịnh vượng kinh tế mà người dân nước này yêu cầu. So với các nước khác trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Nga tiếp tục xếp hạng thấp về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tuổi thọ, sức khỏe và mức thu nhập.

Tham vọng của Trung Quốc trên các vùng biển

Đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã mang lại sự thịnh vượng về kinh tế cho người dân kể từ khi giai đoạn cải cách và mở cửa bắt đầu vào cuối thập niên 1970. Đến nay, ĐCSTQ đã giúp hơn 600 triệu người thoát khỏi đói nghèo và có mức sống khá. Thành công trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc rất đáng được ca ngợi vì họ đã gần như xóa bỏ đói nghèo, xây dựng tầng lớp trung lưu và đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tính theo GDP năm 2022 - đồng thời đứng đầu thế giới về sức mua trên đầu người. Tuy nhiên, bất chấp sự thịnh vượng này, chúng ta thấy Trung Quốc đang cố thiết lập một vùng ảnh hưởng bên trong Biển Hoa Đông, Biển Nhật Bản, Biển Đông và được cho là thông qua các hành lang giao thông liên quan đến Sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Đối với Trung Quốc, việc thiết lập một phạm vi ảnh hưởng, một phần nào đó đã khôi phục lại hệ thống “Thiên hạ”, một hệ thống lấy Trung Quốc làm trung tâm, trong đó (theo quan điểm của Trung Quốc) các nước xung quanh phải ưu tiên lập trường về chính trị và an ninh của Bắc Kinh để đổi lấy lợi ích trong quan hệ kinh tế.

Xen kẽ với hệ thống Thiên hạ, Trung Quốc còn đang tìm cách tái tạo vị thế bá chủ trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, sử dụng các mối quan hệ kinh tế không cân xứng, các hoạt động trong chiến lược “vùng xám”, các chiến thuật “chiến tranh pháp lý” (sử dụng luật pháp làm công cụ chiến tranh) và hợp tác với giới tinh hoa địa phương thông qua các hoạt động của Ban Công tác Mặt trận Thống nhất.

Việc xây dựng các mối quan hệ kinh tế như trên là để buộc các nước láng giềng như Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và thực thể chính trị Đài Loan phải cân nhắc lợi ích của Bắc Kinh trước Washington khi suy nghĩ về các quyết định chính trị, kinh tế và an ninh trong khu vực. Đồng thời, việc thực thi các hoạt động trong vùng xám và các chiến thuật pháp lý là để loại bỏ các tuyên bố chủ quyền và/hoặc đe dọa các đối tác trong các tranh chấp lãnh thổ.

Rõ ràng, Trung Quốc đang cố sửa đổi cấu trúc an ninh trong khu vực, đẩy Mỹ ra khỏi chuỗi đảo thứ nhất và thứ hai, đồng thời cố gắng thiết lập sự thống trị trong Biển Đông, tin rằng “châu Á nên được quản lý bởi người châu Á” - phương châm điều hành của một hệ thống an ninh kinh tế-chính trị có thứ bậc do Trung Quốc áp đặt.

Bằng chứng về những mục tiêu của chủ nghĩa xét lại này rất rộng rãi. Bắc Kinh đã bác bỏ hoàn toàn phán quyết vào tháng 7/2016 của Tòa Trọng tài Thường trực, vốn phủ nhận các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Trung Quốc cũng xây dựng các đảo nhân tạo và sau đó quân sự hóa các đảo này trong khu vực tranh chấp.

Những nỗ lực của Trung Quốc nhằm xây dựng tầm ảnh hưởng được thể hiện rõ ràng hơn qua việc chia rẽ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đây là một quá trình có chọn lọc nhằm tác động đến các quốc gia như Campuchia, Lào và Myanmar để thoát khỏi quá trình ra quyết định dựa trên sự đồng thuận, vốn là yếu tố cần thiết để ASEAN hoạt động như một tổ chức gắn kết.

Bằng cách tạo ra một phạm vi ảnh hưởng trong khu vực thay vì cho phép một cách tiếp cận dựa trên luật lệ để chi phối các tuyến liên lạc trên biển hoặc sử dụng và khai thác hải sản cũng như các nguồn tài nguyên biển khác - bất kể nguyên liệu thiết yếu, đất hiếm hay dầu khí - Trung Quốc đang chứng minh rằng cách tiếp cận “công lý thuộc về kẻ mạnh” trong việc quản lý các vấn đề khu vực sẽ là cơ sở để Bắc Kinh tái tạo hệ thống Thiên Hạ mang các đặc điểm của chủ nghĩa Lenin.

Cách thức để chống lại đe doạ từ chủ nghĩa độc tài

Trên nhiều phương diện, trụ cột dựa trên quy tắc FOIP là một cách tiếp cận toàn diện để chống lại hệ thống trên. Trụ cột này tập trung vào việc ra quyết định dựa trên quy tắc minh bạch, hỗ trợ các thể chế quốc tế, đồng thời nhấn mạnh các chuẩn mực và giá trị chung. FOIP coi luật pháp và các định chế quốc tế là “chủ tọa” trong việc giải quyết các tranh chấp, cho dù đó là bất đồng về lãnh thổ, tranh chấp thương mại hay các mâu thuẫn khác.

Các hành động gần đây của Nga và Trung Quốc thách thức tiến trình dựa trên luật lệ trong đàm phán các vấn đề quốc tế. Rõ ràng, chúng dựa trên cách tiếp cận “công lý thuộc về kẻ mạnh” để giải quyết các bất đồng và các vấn đề an ninh. Ngoài việc thể hiện sức mạnh quân sự, các hệ thống độc tài của Nga và Trung Quốc còn cho phép các cơ quan phụ trách việc đàm phán và thực thi chính sách đối ngoại với các đối tác không phải chịu những ảnh hưởng trái chiều - trong đó các đại biểu có thể nêu cảm nhận của người dân về một chính sách đối ngoại cụ thể với các chính trị gia và các nhà hoạch định - như Canada, Nhật Bản hoặc Mỹ đang làm.

Những thách thức độc tài đối với hệ thống dựa trên luật lệ - như ví dụ ở Ukraine hoặc ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và trên khắp Eo biển Đài Loan - cho thấy sự nguy hiểm của các chính phủ độc tài, xu hướng nghiêng về một trật tự thế giới chuyên quyền đối với các nước dân chủ cũng như các nước vừa và nhỏ.

Các quốc gia đang thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương dựa trên luật lệ cũng nên ủng hộ mạnh mẽ các hành động nhất quán chống lại Nga trong trường hợp cuộc xâm lược Ukraine tiếp tục diễn ra. Các nước này cũng cần rút ra những bài học từ cuộc xâm lược mà Putin hy vọng sẽ thành công.

Thế lưỡng nan của Việt Nam

Việt Nam là một trường hợp đặc biệt. Trước kia, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Việt Nam là một quốc gia thuộc hệ thống XHCN, núp dưới bóng của Liên Xô và Trung Quốc. Chính vì vậy, cho tới nay, thể chế chính trị của Việt Nam cũng mang hơi hướng độc tài giống như Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, khác với Nga và Trung Quốc, khi quyền lực tập trung chủ yếu vào một nhân vật duy nhất, như ở Nga là Tổng thống Putin và ở Trung Quốc là Chủ tịch Tập Cận Bình. Việt Nam không có nhân vật nào đủ sức mạnh nắm quyền lực tuyệt đối như Putin và Tập, nhưng thể chế chính trị Việt Nam là độc đảng với quyền lãnh đạo tuyệt đối về tất cả mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thể chế độc tài với sự cai trị tuyệt đối của Đảng Cộng sản đã bộc lộ ra những căn bệnh trầm Kha, đó là tình trạng tham nhũng thối rữa từ trên xuống dưới.

Chính vì có chung thể chế độc tài như vậy, cho nên chính quyền Việt Nam cảm thấy đồng cảm với sự cai trị của Putin cũng như Tập Cận Bình.

Tuy nhiên, Việt Nam lại bị đe doạ bởi các tham vọng biển của Trung Quốc. Đạc biệt năm 2014, Trung Quốc đã leo thang căng thẳng với Việt Nam khi cho triển khai một giàn khoan khổng lồ vào xâm chiếm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Sau sự kiện đó, Việt Nam đã thấy sự cần thiết phải thúc đẩy các quan hệ với Mỹ và phương Tây, để nhằm làm đối trọng trước sự đe doạ của Trung Quốc.

Chính vì vậy, một mặt Việt Nam muốn đẩy mạnh các quan hệ với Mỹ nhưng phải theo cách của Việt Nam, tức là Việt Nam muốn Mỹ phải đầu tư thật nhiều các dự án kinh tế vào đất nước này. Việt Nam muốn thu được thật nhiều lợi nhuận kinh tế khi quan hệ với Mỹ, còn các vấn đề chính trị và đối ngoại thì phải do Việt Nam tự do quyết định. Mặt khác, Việt Nam không mấy tin tưởng và chấp nhận nhượng bộ các yêu cầu của Mỹ, trong khi đó, Việt Nam lại rất nhún nhường trước các yêu cầu của Nga và Trung Quốc.

Trong cuộc chiến tranh Ukraine chẳng hạn, dư luận Việt Nam bị chia rẽ thành hai phe rõ rệt. Một phe bao gồm những người có cảm tình với nước Nga, thì luôn tìm cách bảo vệ nước Nga và ông Putin, cho dù có sai đi chăng nữa. Phe còn lại thì có cảm tình và ủng hộ Ukraine chống lại sự xâm lược của nước Nga hiếu chiến.

Điều này thể hiện sư phức tạp và giằng xé trong tâm thế của xã hội Việt Nam. Một mặt, khát khao sự lành mạnh với luật pháp rõ ràng, cùng nền dân chủ theo kiểu phương Tây, nhưng mặt khác, lại muốn duy trì suy nghĩ kiểu cũ từ thời “chiến tranh lạnh”, giống như cách Nga và Trung Quốc vẫn đang làm, đó là tấn công và đổ lỗi tất cả bởi vì “sự phá hoại của Mỹ và phương Tây” khiến cho những bất ổn về kinh tế, xã hội và chính trị của họ.

Việt Nam vừa muốn phát triển đất nước, đi cùng với các quốc gia phát triển, nhưng lại muốn duy trì tư duy lỗi thời và thể chế độc tài từ “chiến tranh lạnh” để lại.

Có lẽ câu chuyện Ukraine sẽ là một bài học cho nhiều người Việt Nam thức tỉnh. Vì sao Ukraine chấp nhận mất mát bởi chiến tranh, nhưng vẫn muốn rời xa nước Nga láng giềng, để hướng về phía châu Âu xa xôi. Đó chính là bởi người dân đã hiểu được những trì trệ, lạc hậu của thể chế độc tài, mà họ đã phải gánh chịu rất lâu. Còn trái ngọt dân chủ, cho dù họ mới chỉ nếm được trong thời gian rất ngắn, họ đã hiểu và sẵn sàng trả giá để chọn mô hình dân chủ, tôn trọng pháp quyền đó.

Đây cũng sẽ là con đường mà Việt Nam cần phải chọn để phát triển và chống lại sự đe doạ từ Trung Quốc.

https://www.rfa.org/vietnamese


Bản tin ngày Thứ hai 02 tháng 5 năm 2022

 

Bài học từ cuộc chiến Ukraine cho nền dân chủ Việt Nam

Bình luận của Trần Mai Hạnh
02/5/2022

https://docs.google.com/document/d/1Y51b8GkXA9YtQHtbejcl7Vuj2eTwJwOE/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Hình minh hoạ: một người dân đọc báo có bài về cuộc tấn công của Nga vào Ukraine hôm 25/2/2022 ở Hà Nội /AFP

Tầm quan trọng của “trật tự thế giới dựa trên luật lệ"

Cuộc xâm lược của nước Nga do Tổng thống Nga Vladimir Putin phát động, tấn công vào Ukraine là ví dụ tiêu biểu cho thấy tầm quan trọng của việc củng cố một trật tự dựa trên luật lệ, trụ cột trung tâm trong “Tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP).

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quy định và luật pháp quốc tế đã được đưa ra để ngăn chặn các nước lớn thống trị các nước nhỏ hơn. Người ta hy vọng các quy định này có thể ngăn thế giới rơi vào một vòng xoáy xung đột thảm khốc khác, không chỉ ở châu Âu mà còn ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

 Lý Khánh Hồng - Sao bọn VC,  tụi nó cứ còn hoài ?

Tháng 4 năm 2022

https://docs.google.com/document/d/1XVGa_red8YoxitSpATRS1u69EtB4eQ4O/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Sao bọn VC,  tụi nó cứ còn hoài ? Như là mãi mãi,...

Câu hỏi anh bạn già của tôi hỏi.

Bao nhiêu cái mấy mươi năm ra xứ ngoài không gặp nhau.

Gặp lại. Năm điều bảy chuyện . Rồi cũng đến chuyện nước chuyện non.

Câu hỏi anh hỏi tôi, nếu tôi như mọi người.

Thì, như cô giáo Lam,

Anh không biết em làm sao biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

Nguyễn Mạnh Trinh - Hai mươi năm văn học Miền Nam và các giải thưởng văn chương

Posted on April 22, 2022 by Lê Thy

https://docs.google.com/document/d/1mw4Rm-dsdYDx1Kp4Ss0eW4ynSlpglq7z/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Hai mươi năm văn học miền Nam (1954-1975) là một thời kỳ văn học có nhiều đặc sắc. Như mọi nền văn học khác, cũng có thời kỳ hưng và thời kỳ suy. Cũng như thời cuộc đã ảnh hưởng rất lớn vào đời sống văn chương, cả về cuộc đời tác giả lẫn nội dung tác phẩm. Hai mươi năm, thời thế có nhiều biến chuyển đặc biệt. Bắt đầu với biến cố hòa ước Genève năm 1954 chia đôi đất nước, và chấm dứt với ngày 30 tháng tư năm 1975, quân Cộng sản miền Bắc thôn tính xong miền Nam, văn học cũng như về các phương diện khác như quân sự, xã hội, kinh tế, văn hóa,… là của một đất nước chiến tranh sau một thời kỳ hòa bình ngắn ngủi.

Nguyệt Quỳnh - Toà Án Nhân Dân và bóng con chim nhạn

Nguyệt Quỳnh

https://docs.google.com/document/d/1hopHalgbvfGfxCE7ndown9eMnGXADiMr/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Đầu năm nay, một vụ khởi tố bắt giam ba cư sĩ của một thiền am ở huyện Đức Hoà làm tôi chú ý. Theo dõi báo chí, lắng nghe, rồi thưởng thức những bản bolero do chính các các cư sĩ này hát, tôi chưa bao giờ cảm thấy lòng mình xao xuyến và thú vị như vậy. Giữa lúc dư luận bên ngoài đang dậy sóng, trông họ thật an lành. Họ làm tôi chạnh nhớ đến vị tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử đời nhà Trần và bài thơ “Mưa Núi” của ngài:

Gió thu ban tối thổi hiên tây

Nhà núi đìu hiu tựa đám cây

Tấc dạ tu hành từ những thuở

Dế kêu rầu rĩ bởi ai đây?

(Huyền Quang - Bản dịch của Phan Võ)

Thời sự Việt Nam

Ngày Thứ hai 02 tháng 5 năm 2022

https://docs.google.com/document/d/1FAErYSBx4vG9qTuY6xVMJ6qBmg1XEwiC/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Tại sao mực nước sông Mekong tại Tân Châu và Châu Đốc hạ thấp kể từ năm 2001

Nguyễn Minh Quang

30 tháng 4 năm 2022

https://docs.google.com/document/d/1EApnRRlIVm1gqg6aE-QmTDXkA6eFTzHd/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Phần dẫn nhập

Tân Châu và Châu Đốc - 2 trong 21 trạm thủy học chánh ở hạ lưu vực sông Mekong [1] – là cửa ngỏ để sông Mekong chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (ĐBSCL).  Đây là 2 trạm thủy học quan trọng của ĐBSCL, vì thế mực nước ở 2 trạm nầy được người Pháp đo đạc hàng ngày kể từ thập niên 1920s và sau đó được Ủy Ban Mekong chọn làm trạm thủy học chánh trong hệ thống trạm thủy học ở hạ lưu vực sông Mekong kể từ cuối thập niên 1950s (Hình 1).  Để cho đỡ rườm rà, bài viết nầy chỉ dùng mực nước kể từ năm 1979 đến nay được lấy từ trang web của Ủy hội Sông Mekong [2]; tuy nhiên, thời gian nầy cũng đủ dài để bao gồm những thay đổi quan trọng trong lưu vực, nhất là việc xây cất các đập thủy điện trong hạ lưu vực ở Việt Nam và Lào và thượng lưu vực ở Trung Hoa.

Tin tức thế giới ngày Thứ hai 02 tháng 5 năm 2022

Võ Thái Hà tổng hợp

https://docs.google.com/document/d/1y2M4Wf55iNQlfxBeZwPL8AKQBrSr8sVw/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Sarah Cook  - Chiến thuật tuyên truyền chiến tranh Ukraine của ĐCS Trung Quốc

Nguồn: Sarah Cook, “The CCP’s Ukraine War Propaganda,” The Diplomat, 16/04/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

https://docs.google.com/document/d/1ZmPwm5j_Vpga4_73HL_zq9TfJ17lzPeE/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Đảng và Nhà nước Trung Quốc đang sử dụng hộp công cụ kiểm soát thông tin phong phú của mình để lan truyền phiên bản quan điểm của họ về cuộc xâm lược của Nga.

Bộ máy kiểm soát thông tin khổng lồ của Trung Quốc thường tập trung vào việc bóp méo thông tin mà các công dân Trung Quốc có thể tiếp cận về đất nước mình, trong khi các thông tin liên quan đến nước ngoài chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Tuy nhiên, trong bảy tuần qua, quyết định rõ ràng của các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đứng về phía Tổng thống Nga Vladimir Putin trong cuộc xâm lược vô cớ vào Ukraine đã thúc đẩy một chiến dịch toàn diện nhằm định hình dư luận và các cuộc thảo luận về các sự kiện đang diễn ra cách xa hàng nghìn dặm.

Ngô Nhân Dụng: Cuộc chiến tranh ngầm giữa Nga với Mỹ

02/5/2022

https://docs.google.com/document/d/1UnddBA0lLWgrJBfgxA4ZXgMt-dlvyiCa/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Mỹ với Nga đang tham dự một cuộc chiến, nhưng cả hai bên đều không thừa nhận. Vladimir Putin và Joe Biden đều giả bộ như không có gì; vì quân đội hai nước chưa công khai bắn nhau.

Ông Vladimir Putin có nói rằng khi NATO gửi vũ khí giúp Ukraine tức là gây chiến với Nga. Ông dọa sẽ có hậu quả nghiêm trọng. Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói bóng gió đến Đại chiến Thứ Ba, đến bom nguyên tử, nhưng ai cũng hiểu đó là những lời nói suông. Ông Putin vẫn bán dầu lửa và khí đốt nếu có nước nào hỏi mua. Ba Lan đã gửi cho Ukraine cả máy bay và thiết giáp do Nga cung cấp thời còn chế độ cộng sản. Nga ngưng bán khí đốt, đe dọa, nhưng vẫn không dám đánh thẳng vào các địa điểm chuyển giao vũ khí các nước NATO cho Ukraine, nằm sát biên thùy Ba Lan.

Dorothy Li - Trung Quốc: Phong tỏa hàng chục triệu người gây thêm tổn thất cho các chuỗi cung ứng toàn cầu

02/5/2022

https://docs.google.com/document/d/1BpCD7V-NGtrJ35Ako27mrlq6-u3ZpiZQ/edit?usp=sharing&ouid=106381647024774111691&rtpof=true&sd=true

Chứng kiến ​​trung tâm tài chính Thượng Hải của Trung Quốc, nơi có 25 triệu người, lâm vào tình cảnh phong bế sau hơn bốn tuần phong tỏa đã khiến những người ở Bắc Kinh lo lắng. Thành phố thủ đô này đã phát hiện các đợt bùng phát COVID-19 ngày càng gia tăng và đã gấp rút tiến hành xét nghiệm hàng loạt nhằm ngăn chặn loại virus này.

Gần như toàn bộ 22 triệu cư dân ở Bắc Kinh đã hoàn thành ba vòng xét nghiệm hôm 30/04. Kết quả có thể xác định liệu họ có lâm vào cảnh ngộ giống như những người ở Thượng Hải, nơi những người bị quây trong các hàng rào kim loại phải gõ xoong nồi ở ban công nhà họ vào ban đêm để phản đối cuộc phong tỏa đã kéo dài một tháng.

 

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2022

Thầy Lang…Thang - Từ Nhà Hán Nhìn Tới Nhà Hồ

 


Mấy ông không phải đầy tớ mà cũng không phải cha mẹ dân.

 Có người biết-chắc cũng nhiều – về Hán Sở Tranh Hùng, biết chuyện Hạng Võ biệt Ngu Cơ, biết Hàn Tín lòn trôn, mà lại chịu nhục, nén hận chui qua háng anh hàng thịt giữa chợ, biết nhiều chuyện về nhà Hán lắm, nhưng chắc – có lẽ – không nhiều người biết nhiều chuyện sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang băng hà.

Bởi vì sau khi Cao Tổ quy tiên thì Lã Hậu lộng quyền. Các hào kiệt từng giúp Lưu Bang lập nghiệp đều lần lượt khuất bóng. Hoài Âm Hầu Hàn Tín bị giết, Tiêu Hà qua đời, Quân Sư Trương Lương ngao du Sơn thủy từ lâu, chỉ còn Trần Bình, dù túc trí đa mưu nhưng cũng không thể xoay chuyển cục diện, ngay cho dù ông được phong vị Tả Thừa Tướng. Riêng Vương Lăng dù nắm chức Hữu Thừa Tướng, nhưng với tính khí cương trực, không ưa xu nịnh, nhiều lần công khai phản đối cách chi phối triều đình của dòng họ Lã nên bị dèm xiểm mà mất chức. Trần Bình lên thay, nhưng vẫn khéo léo ẩn mình chờ thời. Cho đến khi Lã Hậu chết, ông liên lạc với tướng Chu Bột gây binh biến diệt cả nhà họ Lã, tôn Đại Vương Hằng lên ngôi, lấy danh hiệu là Hán Văn Đế.

Mặc dù là đương kim Hữu Thừa Tướng, nhưng Trần Bình vẫn tự nguyện nhường chức cho Chu  Bột, với lý do “sức yếu bệnh nhiều”. Sở dĩ ông lựa chọn cách hành xử như vậy là vì ông hiểu rõ lòng Văn Đế. Đế có sự thiên về Chu Bột là người nắm binh quyền, được sự nể vì của quan lại trong việc mang vương quyền trả về nhà Hán. Chức vị đã định xong, Văn Đế thường hỏi hai người về việc triều chính. Có lần Văn Đế hỏi Chu Bột, “Trong một năm, giải quyết bao nhiêu vụ án?” hay, “Trong năm, toàn quốc thu nhập bao nhiêu lương thực?” Chu Bột đáp, “Không rõ.” Thái độ mơ hồ của Chu Bột khiến Vua không hài lòng.

Vua quay sang hỏi Trần Bình. Trần Bình minh bạch đáp.  “Những việc này đều có người chuyên môn quản trị. Việc án thì có quan Đình Uý, việc xuất nhập lương thực thì có quan Nội Sử.” Vua hỏi tiếp, “Việc nào cũng có người quản trị thì các ông Thừa Tướng làm những gì?” Trần Bình trả lời, “Thần làm Thừa Tướng, trên thì phò tá thiên tử, quan sát âm dương, thuận ứng bốn mùa, dưới thì giáo hoá muôn vật, vỗ an bốn phương, đối ngoại hoà thân trăm họ, làm cho quan lại các cấp ai đúng chức vị nấy và trung thành với vua.” Văn Đế liên tục gật đầu tán thưởng.

Tan chầu, Chu Bột trách Trần Bình sao không chỉ cho mình cách ứng đáp khi bị vua chất vấn. Trần Bình cười bảo, “Ông thân làm Thừa Tương sao không tự biết mình nên và phải làm điều gì?”. Từ đó Chu Bột biết khả năng của mình không bằng Trần Bình nên xin Văn Đế miễn chức Hữu Thừa Tướng để giao lại cho Trần Bình đảm nhiệm.

Bây giờ nói chuyện phải quấy với Cán Bộ thời Nhà Hồ đây.

1-  Thân làm Cán Bộ, trên ông có”phò tá thiên tử “ không?

Ông đừng có nói, bây giờ không có thiên tử thì lấy gì mà thờ, nghen! Đừng có “giả chết làm điệp viên, giả điên làm Tôn Tẫn, giả lẫn làm Cán Bộ, nghen! Thiên Tử bây giờ là cấp trên cao nhất của mấy cha đó, là Trọng Lú là Phúc Niễng đó! Anh có phò tá mấy xếp nầy không hay lần chỉ theo nịnh bợ, đợi lúc có thằng khác đẹp lòng thiên triều hơn thì trở mặt ngay để sống còn mà tiếp tục làm thân trâu ngựa cho tròn kiếp nô bộc?

 2- Thân làm Cán Bộ, ông có biết quan sát âm dương không?

Đừng có nói tui đâu có học phong thuỷ mà bắt tui phải biết âm dương ngũ hành cha nội!

Hỏng phải. Âm dương ở đây là phải trái đúng sai, rộng hơn là hữu lý hay không hữu lý, cần làm hay không cần làm. Ông có nhận định điều gì hợp thời hay không hợp thời và kịp thời, giúp cho Lú, Niểng để bớt lú, bớt niểng mà ra quyết định bớt ngu hơn không,vậy mà!

 3- Thân làm Cán Bộ, ông có biết thuận ứng bốn mùa không?

Đừng có nói, tui đâu có học thiên văn, thủy văn mà canh nước lớn nước ròng, triều cường hay triều nhược, lúc nào nắng lúc nào mưa để mà ra lệnh tránh bão trốn mưa hay gieo hạt được?

OK, bào chữa như vậy cũng tạm ổn, nhưng thuận ứng bốn mùa không phải như vậy. Nó là công việc quan sát xu hướng phát triển trên mọi mặt của thời đại, của cả nước, của mọi giới để kịp theo đuổi hay sản xuất những mặt hàng đúng nhu cầu và thị hiếu của Khách của dân. Làm cho dân giàu nước mạnh hơn, hiểu hôn?

 4- Thân làm Cán Bộ, ông có biết dưới thì giáo hoá muôn vật là gì hôn?

Đừng có nói tui đâu phải là thánh thần đâu mà có khả năng giáo hoá muôn vật? Không phải vây, không ai bắt buộc ông phải đi huấn luyện con khỉ, con voi hay cọp để làm xiếc- mà dầu cho như vậy cũng chưa chắc ông làm cho ra hồn- Ông phải hiểu là từ nhánh cây ngọn cỏ đến mọi vật, mọi nguồn tài nguyên đều thuộc về mấy ông. Ông có bổn phận phải xử dụng hay điều hướng cách sử dụng sao cho sinh lợi nhiều nhất và không lãng phí. Hãy nhìn lại hơn suốt 40 năm qua, xuyên qua đủ mọi công trình hay khai thác sản xuất ở mọi ngành nghề, ông có điều hành, điều hướng, điều tiết những nguồn vật lực tài lực của đất nước theo ý nghĩa của việc giáo hoá muôn vật này không?

Công trình lớn Bauxite của Đảng ở Tây Nguyên, cho tới bây giờ lời hay lỗ? Công Ty Formosa ở Hà Tĩnh di hại đến đâu? Nhà máy lọc dầu Dung Quất bây giờ ra sao? VìnaShine, Vinalines thì khỏi nói, hàng chục ngàn hàng trăm ngàn tỷ đồng bay về đâu? Quan cấp nhỏ cỡ Trịnh Xuân Thanh cũng có quyền sử dụng và tiêu hao hàng ngàn tỷ tiền Hồ. Mấy anh giáo hoá muôn vật của đất nước kiểu này mà không xấu hổ thì kể cũng lạ hỉ? lại gần đây vụ Việt Á to lớn như vậy, gian lận, ăn cắp hàng ngàn tỷ sao mãi mới lộ để di hại đến sinh mang hàng ngàn người. Vụ “Chủ trương của cả một bộ máy liên hoàn giữa bộ ngoại giao, vận tải, hàng không..móc túi hàng ngàn tỷ đồng của công dân Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn trong đại dịch Covid-19 về nước, có phải là  là chủ trương ăn cắp một cách khoa học, thầm lặng, đúng đắn và nhân đạo của Đảng và Chính phủ Việt Nam không?

 5- Thân làm Cán Bộ, mấy ông vỗ an bốn phương bằng cách nào?

Đừng nói là: Tui chưa học khoá bảo mẫu nào cả, nghen!

Vậy ông đừng nói cán bộ là đầy tớ của nhân dân nghen! Thân làm đầy tớ là phải biết làm gì rồi nghen! Ông thừa biết công việc một Ô-sin là phải làm gì rồi nghen. Đừng để “thằng Chủ” bực mình lên nó chửi cho một trận. Thằng chủ thường chỉ chửi rồi đuổi việc, nhưng “thằng Chủ nhân dân” thì mất mạng đó con. Bao nhiêu tài sản chắt mót của con nó lấy lại hết cho nên đó! Liệu hồn!

Tui hỏi thiệt :” Mấy ông có nghĩ là mình đang vỗ an bốn phương hay là khuấy động bốn phương?

Toàn quốc, mọi nơi mọi chốn, lớp người gọi là dân oan cũng đông như quân số Đảng viên. Mấy ông không phải đầy tớ mà cũng không phải cha mẹ dân.

Phụ mẫu chi dân là cái gì vậy? Mấy ông không thương mà cũng không chăm sóc ai cả. Chỉ biết lợi dụng dịch bệnh để moi tiền thay vì “hỗ trợ”. “Anh Lương tâm chó gặm” là mấy ông đó! Khốn nạn.

 6- Thân làm cán bộ, mấy anh có biết đối ngoại hoà thân trăm họ là gì hôn?

Tui đâu có học bang giao quốc tế, hả? Đừng bắt tui đối nội đối ngoại nghen!

Hỏng phải vậy! Là “công bộc”, anh phải thân dân, như trong quyển Đại Học đã dạy đó. Ồ! Anh đâu có bằng gì gọi là Đại Học đâu. Cái bằng Tiến Sĩ của anh là thiệt hay giả đây? Anh có gần dân để biết dân muốn cái gì không hay cách biệt họ.

Trăm họ chả có ai gần anh luôn.

Anh đã trở thành kẻ thù của dân khi nào anh biết không? Đợi đến khi nó nỗi dậy thì trễ rồi. Anh đàn áp đánh đập dân nhiều lắm rồi. Hỏi lại anh đi! Anh có hoà thân trăm họ đâu! Anh buộc đai ngồi tại chỗ cho vợ con anh xuống phi cơ trước, mặc dù cô vợ này của anh chưa được hưởng chế độ ưu tiên cấp độ đó.

7- Thân làm Cán Bộ, anh có làm cho quan lại các cấp ai đúng chức vị nấy không? Hay mua quan bán chức để kiếm tiền là chuyện đương nhiên. Và cái ghế của anh đang ngồi cũng được anh mua mà. Hết chỗ nói rồi. Mệt lắm rồi.

Làm gì có chuyện lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ trong cái chế độ mà những người dân nhẫn nại, hiền lành nhất cũng nguyền rủa là khốn nạn của các anh. Mấy anh đi chết đi cho dân tui được nhờ. Hàng triệu người trong đám dân đen không thuộc giai cấp tinh hoa của đảng mà các anh xem thường lại có khả năng hơn các anh nhiều để “bảo quốc an dân”, sẵn sàng chờ đảm đương trách nhiệm mà các anh đang làm nhưng không ra hồn gì cả.

 Tui không bàn chuyện Trung với Vua ở đây. Hãy để cho nhân dân lựa chọn vị vua nào họ tôn xưng trong tương lai. Còn mấy anh: Đi chết đi!

https://vietnamthoibao.org

Đỗ Kim Thêm - Hoà giải Dân tộc: Hiện trạng và Triển vọng

Bức ảnh “Hai người lính” VNCH và CSVN mang thông điệp hòa giải, hòa hợp dân tộc. Nguồn: Internet

Hiện trạng

Kể từ ngày 30/4/1975, đất nước được thống nhất, sau 47 năm, nhìn chung thời gian đã quá đủ để cho Việt Nam có thể hàn gắn mọi vết thương chiến tranh và lật qua một trang sử mới cho sự an bình, thịnh vượng và phát triển.

Ngược lại, thực tế cho đến ngày 30/4/2022, những nỗ lực hòa giải dân tộc đã thất bại. Phe thắng cuộc thu tóm được lãnh thổ nhưng không chinh phục lòng người miền Nam và dân miền Bắc càng hiểu rõ hơn về ý nghĩa sâu xa của “giải phóng”.

Thành quả của chiến thắng vinh quang là toàn dân đại bại và những người thành tâm chưa hề có chỗ đứng trong lòng dân tộc. Tuy thế, nhà cầm quyền vẫn chưa bừng tỉnh mà lại còn tiếp tục né tránh sự thật. Do đó, mối quan hệ của nhà cầm quyền đối với đại gia đình dân tộc vẫn mờ mịt và còn tiếp tục thất bại hiển nhiên là khó tránh.

Dĩ nhiên, không thể phủ nhận là không có những nỗ lực hòa giải từ hai phía thắng lẫn thua, mà những thí dụ sau đây là điển hình.

Phe thắng cuộc

Ý thức hòa giải không thể hiện ngay sau Hiệp định Paris hay ngày 30/4/1975 vì phe thắng cuộc còn đang say men chiến thắng. Về sau, có ít nhiều nhà lãnh đạo càng tiếp xúc nhiều với dân miền Nam, đã bắt đầu có ý thức này, mà tiêu biểu nhất là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Về mặt tình cảm, ông đã nhận xét rất đúng về hậu quả chiến tranh: “… khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành, thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”.

Khi so sánh nỗ lực hòa giải của nhà cầm quyền với kẻ thù Mỹ và toàn dân, ông Nguyễn Đình Bin, cựu Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cũng ngạc nhiên khi tự hỏi: “Sự đô hộ và xâm lược của nước ngoài … gây ra cảnh huynh đệ tương tàn trên đất nước ta, thế mà ta đã hòa giải được với họ, còn chúng ta, anh em một nhà … thì lại chưa hòa giải được với nhau”.

Dù một vài nhân vật của phe thắng cuộc nhận thức được vai trò của hòa giải, nhưng lúc đầu, họ vẫn chưa tạo được các chuyển biến cho tiến trình hòa giải, vì còn cần đến cả một trào lưu.

Về sau, khi Nghị quyết 36, một chính sách mới của Đảng ra đời để chiêu dụ các “khúc ruột ngàn dậm”, thì mới có một sự thay đổi đáng kể.

Thực ra, Nghị quyết của Đảng là quyết định có thái độ ban phát một chiều, không phải là sự tương thuận của hai phía trong tinh thần hòa giải và tôn trọng lẫn nhau. Đảng cũng không có một khuôn khổ pháp luật nào để xây dựng cho tiến trình thêm vững chắc, mà chỉ xem số lượng kiều hối hằng năm làm thước đo xem hòa giải có thành công hay không.

Tuy biết thế, nhưng một vài khuôn mặt quan trọng của phe thua cuộc cũng tham gia qua nhiều hình thức khác nhau, mà các trường hợp sau đây là các thí dụ.

Phe thua cuộc

Tiêu biểu nhất cho tiếng nói phe thua cuộc là cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Khi về nước để làm chiếc cầu nối khởi đầu cho người Việt hải ngoại, ông tuyên bố: “… nhiệm vụ của mỗi công dân trên toàn thế giới là đoàn kết nhau lại, hợp sức xây dựng đất nước. Hãy quên quá khứ để nhìn về tương lai”.

Sau nhiều lần vận động dư luận, ông Kỳ thú nhận là không đạt kết quả: “… cả hai phía vẫn có thiểu số còn quá nặng về dĩ vãng, chưa có tầm nhìn về tương lai… tư duy của họ vẫn mãi bị ám ảnh bởi những chuyện hận thù, chủ nghĩa hay phe phái… muốn hòa hợp thì rất không nên nói nhiều mà phải làm”.

Kết quả là ông Kỳ không giúp được gì cho mục tiêu chính của nhà cầm quyền. Ông mất năm 2011 và không được ca tụng hay thương tiếc; nhưng ông đã tạo thêm phân hoá cho người Việt hải ngoại, hầu hết kết án ông là phản bội, thiếu liêm khiết và can trường của người chiến bại.

Có nhiều giải thích về động lực của ông Kỳ khi về nước, không ai có thể tin là ông có tinh thần tự nguyện, mà do sự thu xếp của nhà cầm quyền, trực tiếp nhất là ông Nguyễn Đình Bin. Về sau, Trịnh Xuân Thanh khi trốn chạy sang Đức có lên tiếng tố giác là ông Kỳ bị mua chuộc bằng rất nhiều tiền cho việc trở về này.

Nhạc sĩ Phạm Duy, dù không phải nhà một nhân vật quan trọng trong chính giới miền Nam, nhưng là một cây đại thụ trong làng âm nhạc. Ông theo Việt Minh tham gia kháng chiến rồi lại bỏ quay về Hà Nội. Sau năm 1954, ông di cư vào Nam và năm 1975 sang Mỹ tỵ nạn. Trong các thời kỳ khác nhau, ông có những nhạc phẩm đấu tranh nổi danh.

Tuổi già xế bóng, ông không còn quan tâm đến chính trị và muốn trở về Việt Nam sống, nhưng gặp phải phản ứng dữ dội của nhiều người yêu nhạc. Cuối cùng, bất chấp dư luận, ông quyết định: “người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm”.

Đối với sự thay đổi trên quê hương, ông không lo cho đại cuộc hòa giải, mà chỉ nhận xét đơn thuần: “Đời sống của dân mình tôi thấy đã thay đổi hoàn toàn, ngay cả làng mạc nay cũng khang trang, sạch sẽ. Người nông dân tuy còn đi cày, nhưng trên bờ ruộng lại có chiếc Honda, không phải lội bộ như ngày xưa”.

Ông qua đời năm 2013 và không có một đóng góp đáng kể nào cho việc hòa giải ngoài việc làm sống lại một số nhạc phẩm đã bị cấm phổ biến trước đây. Trào lưu thưởng ngoạn của thế hệ hậu chiến thay đổi, họ không còn hâm mộ nhạc của ông, mà là nhạc Boléro.

Một cao tăng Phật giáo lừng danh quốc tế trong phong trào kêu gọi cho hòa bình Việt Nam và có nhiều công đức hoằng pháp qua phép tu Chánh niệm tại phương Tây là Thiền sư Nhất Hạnh cũng về nước.

Không trực tiếp dấn thân cho việc hòa giải mà thực ra Thiền sư Nhất Hạnh muốn chấn hưng Phật giáo đang suy đồi bằng cách truyền dạy Pháp môn Làng Mai và xây dựng chùa Bát Nhã ở Đà Lạt, Lâm Đồng làm nơi tu tập cho môn sinh.

Lúc đầu, Thiền sư được các cấp lãnh đạo hoan nghênh chào đón, hội kiến và cho phép Làng Mai hoạt động. Sau khi Làng Mai bắt đầu hoạt động từ năm 2005, Thiền sư Nhất Hạnh có yêu cầu là Ban Tôn giáo Chính phủ và công an không có quyền can dự sinh hoạt của tu viện Bát Nhã, Làng Mai không cần liên hệ đến Giáo hội Phật giáo Quốc doanh và chịu sự lãnh đạo của Đảng.

Từ sự dị biệt quan điểm này, nhà cầm quyền quyết định giải tán tu viện vì xem Bát Nhã là mối đe dọa cho an ninh quốc gia và xem thiền sư Nhất Hạnh là “vi phạm pháp luật” và có “ý đồ chính trị”.

Biến cố Bát Nhã gây nhiều chấn động trong công luận vì công an không chính thức ra tay mà lại mượn côn đồ gây mọi trò bỉ ổi để không cho tu viện hoạt động, buộc tăng sinh phải ra đi và cuối cùng để chiếm đoạt toàn bộ cơ sở khang trang trị giá nhiều triệu đô la.

Một sự kiện liên hệ đến hòa giải là Phật giáo Quốc doanh trực tiếp can thiệp nghi thức cầu siêu, do Thiền sư Nhất Hạnh đứng ra tổ chức. Trong cả ba buổi cầu siêu, Thiền sư muốn cầu nguyện cho tất cả mọi nạn nhân trong chiến tranh, trong đó có các binh sĩ Mỹ, binh sĩ VNCH và tù nhân bị cải tạo và thuyền nhân vượt biên. Ngược lại, Hoà thượng Thích Trí Quảng, hiện đang là Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Trung ương, lúc đó dựa theo quan điểm chính thức của Đảng để phản đối và yêu cầu các buổi lễ chỉ nên riêng dành cho những “liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ”.

Nhiều vấn đề liên quan đến Thiền sư trong chuyến về nước đã được công luận bàn cải sôi nổi mà các điểm có liên quan đến hòa giải cần nêu lên ở đây.

Một là, Việt Nam không có chủ trương hòa giải, cụ thể là không cho phép cầu siêu những người khác chiến tuyến đã nằm xuống. Ban Tôn giáo cũng không phân biệt hai phạm vi tự do tôn giáo và chính trị.

Hai là, Thiền sư Nhất Hạnh thất bại trong việc hòa giải giữa Giáo hội Quốc doanh và Giáo hội Thống nhất, một tổ chức tiền thân do Thương Toạ Thích Quảng Độ lãnh đạo.

Ba là, Thiền sư Nhất Hạnh đã không dám công khai đối đầu với nhà cầm quyền để tranh đấu cho tự do tôn giáo. Khi tu viện Bát Nhã bị tịch thu và các môn sinh bị trục xuất, Thiền sư sử dụng tên Nguyễn Lang, một bút danh trước đây, để viết thư thỉnh nguyện. Đây là một việc làm ôn hòa, nhưng né tránh, không mang chính danh, chính ngữ và đạt hiệu quả.

Các thí dụ điển hình cho thấy, nỗ lực hòa giải thất bại đối với thế hệ trước đây. Ngược lại, thế hệ hậu chiến không có vấn đề quá khứ nên không có nhu cầu hòa giải, nhưng việc xây dựng đất nước và dân chủ hoá mang nhiều sắc thái khác hơn, nếu thành công, Việt Nam sẽ không còn việc hòa giải. Người Việt hải ngoại và du học sinh là những đối tượng tiêu biểu cho trào lưu này.

Người Việt hải ngoại

Người Việt hải ngoại không trực tiếp nêu lên nhu cầu hòa giải chính trị, mà chỉ lo đóng góp vật chất cho việc xây dựng đất nước, dù có một số không nhỏ có quá khứ tham chiến. Hai lĩnh vực mà nhà cầm quyền luôn tự hào về các thành quả của người Việt hải ngoại là đầu tư kinh tế và kiều hối.

Tính đến cuối năm 2020, người Việt hải ngoại đã có trên 360 dự án ở Việt Nam với tổng số vốn 1,6 tỉ đô la. Số lượng kiều hối trong năm 2021 đạt 18,06 tỉ đô la, tương đương 5% GDP của Việt Nam.

Thực tâm, người Việt hải ngoại muốn dùng kiều hối để giúp cho thân nhân là chính, nhưng hậu quả cuối cùng là tiếp tay dung dưỡng cho chế độ. Đối với nhà cầm quyền, kiều hối là ân huệ trời ban, vì không phải lo các điều kiện hoàn lại và bị kiểm soát như khi phải đàm phán với các nước phương Tây trong các chương trình viện trợ phát triển.

Nếu đem hai thành tích này so với số trên năm triệu người gốc Việt đang sinh sống và làm việc khắp thế giới, thì phải xem đây là một đóng góp còn quá khiêm tốn, chưa xứng đáng với tiềm năng. Chính vì thế mà nhà cầm quyền còn mong tìm nhiều cơ hội khác để khai thác nhiều hơn.

Lý do chính là tài sản của người gốc Việt không phải chỉ có nơi kho báo vật chất, mà là tài năng trí tuệ. Hiện nay, trên 700.000 chuyên gia khoa học khác nhau làm rạng danh cho người Việt tại các nước đang định cư. Nếu tất cả đồng loạt trở về để cống hiến tài năng cho đất nước, thì Việt Nam vừa không mất phí tổn đào tạo, vừa sử dụng ngay các kinh nghiệm quốc tế. Đó là lợi thế tối ưu để chấp cánh thiên thần bay cao trong nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã ý thức vấn đề này và đưa ra nhiều chương trình thu hút nhân tài, nhưng không gây được tiếng vang.

Thực tế là trái lại. Theo một ước lượng, số người về nước làm việc mỗi năm chưa đến một ngàn, vài trăm là chính xác hơn, đa số chỉ tham gia trong các dự án đầu tư của các doanh nghiệp quốc tế và hầu như không có ý định sống lâu dài ở Việt Nam.

Mặc dù yếu tố văn hoá, kinh tế, thời tiết có thuận lợi cho người Việt hải ngoại, nhưng thể chế chính trị vẫn là mối bận tâm chính. Chế độ độc tài đảng trị, thái độ gia trưởng trong hệ thống công quyền, quốc nạn tham nhũng, vi phạm nhân quyền là các thí dụ.

Nhà cầm quyền phải thú nhận rằng, có nhiều người Việt hải ngoại “còn thành kiến, mặc cảm đã thể hiện sự bất mãn, tiêu cực, đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, tuyên truyền sai sự thật, kích động kiều bào, phá hoại mối quan hệ giữa nước sở tại với Việt Nam, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực thi chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước”.

Du học sinh

Du học sinh không bị ràng buộc bởi quá khứ chia rẽ, nên việc hòa giải không cần đặt ra. Nhiều người thiết tha với việc dân chủ hóa cho đất nước, cho rằng khi họ ra nước ngoài, sẽ hấp thụ giá trị dân chủ và về nước sẽ làm ngọn đuốc soi đường để giúp dân chủ hoá quê hương. Với thời gian, việc đổi mới cho đất nước có cơ may thành tựu và việc hòa giải cũng nhờ thế mà âm thầm kết thúc.

Theo một thống kê gần đây, hiện đang có khoảng 190.000 du học sinh Việt Nam đang học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Úc 30.000, Mỹ 29.000, Canada 21.000, Anh 12.000, Trung Quốc 11.000.

Sự thật về các thành tựu của du học sinh cũng làm cho các nhà đấu tranh dân chủ đau lòng và nhà cầm quyền cũng thất vọng không kém. Nguyện vọng của hầu hết các du học sinh đều không muốn về nước để phục vụ. Có nhiều lý do để giải thích cho thái độ này, không hẳn là lựa chọn cá nhân mà phản ảnh một thái độ chính trị.

Các quốc gia phương Tây có chủ trương thu hút nhân tài, không quan tâm đến chính kiến hay lối sống riêng tư, không phân biệt nguồn gốc hay gia thế, mà mục tiêu chính là tạo điều kiện để phát triển chuyên môn. Chủ trương này khác hẳn với chính sách “hạt giống đỏ” của Việt Nam hiện nay. Vì “hồng hơn chuyên”, nên các “thái tử Đảng” có ưu quyền để chiếm ưu thế trong các chức vụ lãnh đạo.

Lý do ở lại của các du học sinh còn có tiềm ẩn khác. Hầu hết tìm cách nhập cư, tìm việc và kết hôn, mọi hình thức hợp pháp nhằm tạo cầu nối “đoàn tụ” cho cha mẹ và anh em.

Do cách hạ cánh an toàn này mà nhà cầm quyền nhận ra một thất bại khác. Du học sinh lạm dụng tiền đóng thuế của dân qua hình thức ngân sách tài trợ, cuối cùng, có kết quả là việc đoàn tụ gia đình tại hải ngoại ngày càng gia tăng và cả hai việc thất thoát nhân tài và tiền ngân sách không có cách thu hồi.

Tóm lại, người Việt hải ngoại và du học sinh sẽ không đóng góp gì nhiều cho hai mục tiêu xây dựng đất nước và dân chủ hoá. Do đó, vấn đề hòa giải cũng còn tồn động.

Triển vọng

Trước hiện tình này, vấn đề được đặt ra là liệu nhà cầm quyền có đủ can đảm để cải thiện tiến trình hòa giải dân tộc không. Cho đến nay, câu trả lời là không, hay đúng hơn là vẫn còn né tránh.

Né tránh là một thái độ khôn ngoan vì thế hệ tham chiến lần lượt ra đi và thế hệ hậu chiến không quan tâm đến quá khứ lịch sử. Với thời gian trôi qua, nhu cầu hòa giải sẽ được kết thúc trong âm thầm.

May mắn lớn nhất cho nhà cầm quyền là trào lưu quốc tế vô cùng biến động, dịch bịnh COVID-19 hoành hành và kinh tế suy sụp là những thách thức mới, nên các tiếng nói chống Cộng ở hải ngoại hay hòa giải trong nước không còn nhiều và quốc tế không còn quan tâm như trước.

Do đó, mọi ước vọng của người dân trở nên thực tế hơn, đó là sức khoẻ cá nhân và bình yên gia đình trong cuộc sống hằng ngày. Trực diện đấu tranh với nhà cầm quyền chỉ khi nào quyền lợi bị trực tiếp bị tổn thương.

Công nhân có thể còn tranh đấu cho quyền lợi, nông dân còn lên tiếng nói để đòi bồi thường trong các cụ tranh chấp đất đai thoả đáng hơn. Nhưng các đòi hỏi vật chất này không có nguy cơ làm náo động xã hội nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Nhìn chung, toàn dân có một ước muốn là đất nước an bình và thịnh vượng, được nhà cầm quyền bảo vệ dân quyền. Đó là một khuôn khổ để xây dựng lại các mối quan hệ cho toàn xã hội.

Chính một tinh thần đồng thuận về mọi giá trị chính trị trở thành niềm tin trong việc tạo lập một cộng đồng xã hội cho tương lai. Trong tiến trình này, luật pháp đóng vai trò quan trọng nhất.

Tuân hành luật pháp là điều kiện tiên quyết để cho thể chế chính trị bảo vệ các thành phần dị biệt trong xã hội. Khuôn khổ tuân hành là nhà cầm quyền phải tạo điều kiện cho tất cả các thành phần dân tộc, các xu hướng chính trị, các tôn giáo được bình đẳng trước pháp luật, thực thi dân chủ, tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Sự đồng tình của toàn dân trong bối cảnh mới sẽ đem lại ý nghĩa cho sự chung sống.

Nhìn lại quá khứ, một thực tế không thể tranh cãi là các vấn đề khuất tất lịch sử đã không được soi sáng. Kết quả là cho đến ngày nay, nhà cầm quyền vẫn còn tranh đoạt trắng trợn thành tích giành độc lập dân tộc, dùng các thủ đoạn gian dối, né tránh, độc quyền giải thích lịch sử, tìm mọi cách khơi dậy thù nghịch và đe dọa sử dụng bạo lực đảng quyền. Đó cũng chính là điểm bi thương nhất cho lịch sử cận đại.

Điều may mắn cho dân tộc là bia miệng vẫn còn truyền tụng các sự thật. Lịch sử truyền khẩu sẽ không bao giờ quên được tội ác của Việt Minh và Việt Cộng gây ra, mà việc sát hại Đức Huỳnh Giáo Chủ, đàn áp Phật giáo Hoà Hảo và thảm sát người dân vô tội ở Huế vào dịp Tết Mậu Thân là hai thí dụ chính. Trong thời đại văn minh, các hình thức độc quyền ban phát chân lý lịch sử không phải là tiếng nói của lương tri và đạo đức.

Vì sự thật sẽ mãi mãi tồn tại và giải phóng cho chúng ta, nên nhà cầm quyền không còn có lợi gì khi tiếp tục chính sách giáo dục ngu dân bằng cách xoá bỏ sự thật lịch sử. Thời thế đổi thay, mọi nhận thức về quá khứ vinh quang của một đất nước anh hùng cần được xét lại nghiêm chỉnh.

Đối với các tồn đọng trong quá khứ, không còn cách nào tốt đẹp hơn cho nhà cầm quyền là phải có trách nhiệm làm sáng tỏ những bí ẩn của lịch sử và hàn gắn những chấn thương tâm lý cho toàn dân.

Còn trong hiện tại, sự sợ hãi thường trực đang làm cho nhà cầm quyền lo, tạo ra mọi phương tiện cần thiết để duy trì bạo lực độc tài, mà đúng ra là cần trực tiếp và thành tâm đối thoại với các thành phần đối kháng, không nên hoang tưởng xem tất cả là các thế lực thù địch đang chống phá chế độ. Không thể tổng quát hoá rằng ai có quan điểm đối lập chính trị cũng đều là những phần tử suy thoái đạo đức và phản động.

Trong chiều hướng này, nhà cầm quyền phải phản tỉnh để tìm lại nguyện vọng trung thực của toàn dân. Ý thức mới này, nếu nhận ra được, trở thành một giải pháp mới cần thực thi.

Các bế tắc về lý thuyết của đảng CSVN cần phải được bổ sung. Thực tế là nền kinh tế thị trường theo XHCH sinh ra một quái thai là tư bản thân tộc, một hình thức giai cấp bóc lột mới và gây bao bất công cho xã hội.

Thực thi chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới, nếu được cải cách, có nghĩa là, không hô hào độc tôn đảng quyền và bạo lực sắt máu để bảo vệ cho thân tộc mà là trong tinh thần tôn trọng dân chủ, bình đẳng, luật pháp và đem phúc lợi cho toàn dân, đó chính là một mô hình mà các nước Bắc Âu đã áp dụng thành công.

Kết luận

Đất nước đang đứng trước các thách thức nghiêm trọng, Việt Nam không thể tiếp tục tìm sự bao che của các cường quốc để duy trì chế độ mà quên đi sức mạnh dân tộc. Ngược lại, chính sức mạnh dân tộc mới là chỗ dựa vững chắc và tinh thần đoàn kết Diên Hồng là một khởi điểm tất yếu cho việc khởi động lại tinh thần hòa giải dân tộc.

Thành tâm xoá bỏ hận thù là tìm hiểu và mến yêu người sai phạm. Tha thứ và hiểu nhau là vì đã tìm thấy lại nhau trong một quá khứ chung lầm lạc. Mọi người bắt đầu yêu mến nhau là vì nhận ra rằng có cùng chung số phận và ý chí để lo xây dựng đất nước.

Nếu các nỗ lực soi sáng lịch sử và thành tâm khép lại quá khứ của nhà cầm quyền thành công, thì một mạng lưới quang minh chính đại trong mối quan hệ toàn xã hội sẽ dần dà thành hình.

Trong triển vọng này, tiến trình hòa giải cho đại gia đình dân tộc có điều kiện khả thi khởi đầu và hợp tác quốc tế để phát huy nội lực là vấn đề hỗ trợ thứ yếu.

https://baotiengdan.com/2022/05/01