Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012
NHÂN BẢN, DÂN TỘC VÀ KHAI PHÓNG
HỆ THỐNG GIÁO DỤC TẠI MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975
Nhân bản, dân tộc và khai phóng
Nền giáo dục ở Miền Nam trước 1975 đặt trên 3 phương châm lớn, được ghi vào Hiến Pháp hẳn hoi: nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Giáo dục nhân bản lấy cá nhân làm trọng, nhấn mạnh đức dục, hướng đến phục vụ tha nhân. Giáo dục dân tộc bắt đầu từ chương trình Việt, xiển dương lòng ái quốc thương nòi. Giáo dục khai phóng mở mang kiến thức khoa học kỹ thuật, không ngại du nhập những nét hay, thế mạnh của Tây Phương.Những bước ban đầu
Thầy trò tiểu học thời VNCH.
Triết lý giáo dục đó giúp học trò thăng hoa, lòng sáng tạo được khích lệ, tự do cá nhân được nâng đỡ -- là nguyên do chánh khiến các ngành nghệ thuật, văn thơ hội hoạ phát tiết tài hoa, để lại hằng ngàn tác phẩm vài chục năm sau vẫn mê hoặc hồn người. Còn vài đóng góp sáng giá khác mà chúng tôi sẽ thử nêu ra trên trang báo này. Cần ghi nhận nền giáo dục đại học thời VNCH được hoàn toàn tự trị. Các việc ngân sách, nhân sự, học vụ... đều không bị giới chánh trị chi phối. Theo thời thế, có nỗ lực canh tân, chuyển dần từ cách dạy và học của người Pháp sang phương pháp thực nghiệm chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ. Một điểm đặc sắc rất riêng của nền giáo dục VNCH là sự ổn định của chương trình đức dục/công dân giáo dục, từ bậc tiểu học lên đến trung học. Tính nhân bản và hiệu quả của chúng đã được chứng thực qua thời gian. Một phần thậm chí đang được... copy dùng lại ở VN hiện nay.
Một cuộc mít tinh của phụ nữ thời Đệ Nhất Cộng Hòa
Các bậc học
Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Theo các số liệu còn lại, vào đầu thập niên 1970, cả nước có khoảng 5,200 trường tiểu học với 2.5 triệu học trò. Cùng thời điểm này, có trên 530 trường trung học và hơn 550,000 học sinh trung học. Đến niên học cuối cùng 1975, toàn quốc có 900,000 học sinh trung học. Cùng lúc ở bậc đại học, khoảng 167,000 sinh viên ghi danh học. Ngoài ra, thời VNCH còn có hệ thống "Bách Khoa Bình Dân" với học phí thấp, thậm chí miễn phí. Đây là các trung tâm huấn nghệ ngắn hạn, dành cho học trò hoàn cảnh cơ cực không thể tiếp tục lên đại học, hoặc giới thợ thuyền đầu tắt mặt tối, kể cả cựu quân nhân, v.v...
TỪ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG ĐẾN MAI THÁI LĨNH
Tưởng Năng Tiến
Người đứng đầu các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đoàn thể quần chúng…phải là người có tài, có đức, được quần chúng tín nhiệm, không phân biệt là đảng viên hay người ngoài đảng. Từ nay trở đi, để có thể giữ những chức vụ trong bộ máy quản lý nhà nước, bộ máy quản lý kinh tế, các đoàn thể quần chúng, đảng viên không còn “đặc quyền” gì mà phải “thi đua” với quần chúng.
(Mai Thái Lĩnh)
Ðó là ý kiến đóng góp để xây dựng đảng cộng sản Việt Nam của một nghị viên Hội Ðồng Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, ông Mai Thái Lĩnh, được phát biểu vào năm 1988. Ở thời điểm này, dù là đảng Cộng Sản Việt Nam đang hô hào đổi mới và chủ trương cởi trói, ý kiến hoàn toàn không có gì là mới lạ và độc đáo vừa nêu cũng đã khiến cho nhiều đồng chí lãnh đạo rất phiền lòng!
Trước đó 32 năm, trong một bài tham luận đọc trước phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc vào ngày 30 tháng 10 năm 56, một trí thức Việt Nam khác, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, cũng đã “góp ý” tương tự với đảng- bằng cách nói ví von và diễu cợt hơn:
“Trong 10 năm qua ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ ‘lập trường’ làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu dùng một hình ảnh duy tâm, tôi ví lập trường như cái oan hồn theo đuổi ngày đêm kẻ nào đã hãm hại chủ nó…”
“Dầu sao ở Việt Nam chúng ta đã xẩy ra những việc như sau đây, ta cần ghi lại để con cháu ta cuời muôn thưở: Khi chọn một nguời lái xe ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi:”có lập trường không?” Kết quả là :từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà-nội, hàng trăm tai nạn xẩy ra, do những nguời vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là:”bệnh nhân thành phần giai cấp nào ?”
Người đứng đầu các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đoàn thể quần chúng…phải là người có tài, có đức, được quần chúng tín nhiệm, không phân biệt là đảng viên hay người ngoài đảng. Từ nay trở đi, để có thể giữ những chức vụ trong bộ máy quản lý nhà nước, bộ máy quản lý kinh tế, các đoàn thể quần chúng, đảng viên không còn “đặc quyền” gì mà phải “thi đua” với quần chúng.
(Mai Thái Lĩnh)
Ðó là ý kiến đóng góp để xây dựng đảng cộng sản Việt Nam của một nghị viên Hội Ðồng Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, ông Mai Thái Lĩnh, được phát biểu vào năm 1988. Ở thời điểm này, dù là đảng Cộng Sản Việt Nam đang hô hào đổi mới và chủ trương cởi trói, ý kiến hoàn toàn không có gì là mới lạ và độc đáo vừa nêu cũng đã khiến cho nhiều đồng chí lãnh đạo rất phiền lòng!
Trước đó 32 năm, trong một bài tham luận đọc trước phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc vào ngày 30 tháng 10 năm 56, một trí thức Việt Nam khác, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, cũng đã “góp ý” tương tự với đảng- bằng cách nói ví von và diễu cợt hơn:
“Trong 10 năm qua ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ ‘lập trường’ làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu dùng một hình ảnh duy tâm, tôi ví lập trường như cái oan hồn theo đuổi ngày đêm kẻ nào đã hãm hại chủ nó…”
“Dầu sao ở Việt Nam chúng ta đã xẩy ra những việc như sau đây, ta cần ghi lại để con cháu ta cuời muôn thưở: Khi chọn một nguời lái xe ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi:”có lập trường không?” Kết quả là :từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà-nội, hàng trăm tai nạn xẩy ra, do những nguời vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là:”bệnh nhân thành phần giai cấp nào ?”
Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012
Gender Equality and Women's Issues in Vietnam: The Vietnamese Woman - Warrior and Poet
Wendy Nicole Duong
August 1, 2000
Pacific Rim Law & Policy Journal, Vol. 10, p. 191, 2000-2001
Abstract:
Exploration of women's issues in Vietnam strengthens the emerging voice of the "exotic other female" in contemporary international feminist discourse. Any women's movement in Vietnam today must be case as the revitalization of the Vietnamese women's collective cultural identity, rather than as a Western imported feminist doctrine. The Vietnamese women's collective cultural identity is based on the history and cultural folklores of Vietnam, including expressions of feminist ideas in law and literature and a long history of warfare and collective sufferings, wherein women have been seen as martyrs, national treasures, and laborers in war and in peace.
The advocacy of gender equality in Vietnam today is limited by eight "risk factors." First, Vietnam's strong matriarchal heritage that persisted through its early history has at times led to the disingenuous proposition that Vietnam has no need for a feminist movement. Second, Vietnam's repetitive, prolonged war and poverty have together overshadowed gender issues. Third, women's movements in Vietnam have not evolved into a doctrine with a structured basis that is independent from nationalism, socialism, or literary movements. Fourth, gender equality in Vietnam has become entangled in what this Article describes as the "fallacy of a trio," in which gender equality becomes synonymous with nationalism and socialism. Fifth, the rule of law in Vietnam has traditionally been considered secondary to customs derived from the oppressive values of Vietnamese Confucian society and the autonomy of the Vietnamese agricultural villages. Sixth, women's rights advocacy has been caught up in the "universality versus cultural relativism" discussion, further complicated by the question of whether there should be "Asian-styled gender rights" in Vietnam. Seventh, Vietnam, despite its age, is a new nation with a wide variety of philosophical bases, legal traditions, and paradoxical values. Finally, the single-party political system of modern Vietnam renders any feminist movement susceptible to Party politics.
The limitations on advocacy for gender equality are illustrated by the shortcomings of Vietnam's Year 2000 National Action Plan, which attempted to address women's issues in the aftermath of the United National Fourth World Conference on Women held in Beijing in 1995. While the reassertion of cultural identity can effectively empower Vietnamese women, the feminist advocate must approach cultural identity with caution in order to avoid the semantic traps of euphemism, empty ethnocentrism, and unhealthy preoccupation with the past that can impede progress for the future.
https://docs.google.com/file/d/17wIqJ6itfD9ep-eUP6583MQxo2f1zyGuKMV4ObbXL-tJhYuKb8QDxjG9Zk-b/edit
TRÊN VÁN CỜ NƯỚC LỚN: TỪ GENEVE ĐẾN PARIS
Tác giả: Huỳnh Phan - Phương Loan
Bài đã được xuất bản.: 31/10/2012 00:00 GMT+7
Không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước Gieneva, nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất không nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai, TS Pierre Journoud nói.
LTS: Gần 40 năm đã trôi qua kể từ khi Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc. Từ Geneva đến Paris, và ngay cả trước đó và giai đoạn hiện nay, Việt Nam thường xuyên bị đặt ở tình thế đứng giữa các nước lớn, trên bàn cờ chiến lược. Tuần Việt Nam trò chuyện với TS Pierre Journoud, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, với kì vọng lí giải cho vị thế đặc biệt này của Việt Nam, và tìm gợi ý chính sách cho giai đoạn hiện tại.
TS Pierre Journoud nói: Việt Nam dường như luôn bị kẹt vào thế một con cờ trong bàn cờ của các nước lớn. Đầu tiên là giữa Pháp và Trung Hoa (thời Nguyễn), rồi đến hai phái Cộng sản và Quốc dân Đảng ở Trung Quốc (1945-1946), rồi Pháp - Mỹ một bên và Liên Xô - Trung Quốc một bên tại hội nghị Geneva (1954), rồi Liên Xô và Trung Quốc từ những năm '60 kéo dài đến hết cuộc chiến ở Campuchia. Bây giờ dường như lại kẹt giữa Mỹ và Trung Quốc trong câu chuyện liên quan đến tranh chấp Biển Đông...
Trung Quốc không muốn láng giềng mạnh
Xin phép ông trở lại thời điểm đàm phán Geneva. Lập trường của phía Chính phủ Hồ Chí Minh ban đầu là giới tuyến tạm thời sẽ là vĩ tuyến 14, thế nhưng cuối cùng họ phải chấp nhận vĩ tuyến 17. Có thông tin nói rằng đây là chủ ý của Liên Xô, trong một sự đổi chác nào đó với phía Pháp.
Tôi nghĩ rằng người đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Chính phủ Hồ Chí Minh nhượng bộ là Trung Quốc, chứ không phải Liên Xô.
Tôi thì lại nghe rằng người đưa ra ý tưởng là Liên Xô, còn Trung Quốc chỉ là người thực hiện thôi.
Khi bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và nhất là khi những người cộng sản giành thắng lợi ở Trung Quốc vào năm 1949, Stalin đã trao vai trò ở Đông Nam Á choTrung Quốc. Bởi ông ta không muốn can dự vào Đông Nam Á.
Lý do?
DAVID BARBOZA TRẢ LỜI CÂU HỎI BẠN ĐỌC VỀ BÀI PHÓNG SỰ Ở TRUNG QUỐC
The New York Times
http://thelede.blogs.nytimes.com/2012/10/29/david-barboza-answers-reader-questions-on-reporting-in-china/?hp
Tác giả: DAVID Barboza
Người dịch: Huỳnh Phan
29-10-2012
David Barboza, trưởng văn phòng Thượng Hải của tờ New York Times, tuần trước đã công bố bài điều tra rằng những người thân của thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo, nắm giữ của chìm hàng tỉ đô la. Dưới đây là các câu trả lời của ông cho các câu hỏi do bạn đọc nêu lên từ bài viết đó.
Hỏi: Là trưởng văn phòng Thượng Hải của New York Times, tôi nghĩ rằng ông là một chuyên gia về Trung Quốc. Tôi tò mò muốn biết điều gì đã thôi thúc ông viết bài viết này? Ông có lý do chính yếu gì cho thời gian tung ra bài viết này? Ông có bao giờ cảm giác đang bị lợi dụng không? – Casablanca
http://thelede.blogs.nytimes.com/2012/10/29/david-barboza-answers-reader-questions-on-reporting-in-china/?hp
Tác giả: DAVID Barboza
Người dịch: Huỳnh Phan
29-10-2012
David Barboza, trưởng văn phòng Thượng Hải của tờ New York Times, tuần trước đã công bố bài điều tra rằng những người thân của thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo, nắm giữ của chìm hàng tỉ đô la. Dưới đây là các câu trả lời của ông cho các câu hỏi do bạn đọc nêu lên từ bài viết đó.
Hỏi: Là trưởng văn phòng Thượng Hải của New York Times, tôi nghĩ rằng ông là một chuyên gia về Trung Quốc. Tôi tò mò muốn biết điều gì đã thôi thúc ông viết bài viết này? Ông có lý do chính yếu gì cho thời gian tung ra bài viết này? Ông có bao giờ cảm giác đang bị lợi dụng không? – Casablanca
TIẾN SĨ ALAN PHAN CHIA TAY QUỸ ĐẦU TƯ VIASA VÌ MUỐN..PHIÊU LƯU
...- Câu chuyện từ chức của ông còn được chia sẻ trên Blog với một thông điệp rất thẳng thắn về “văn hóa từ chức”. Thực tế ở Việt Nam, câu chuyện này không phải bây giờ mới đề cập song giữa lời nói và việc làm còn có khoảng cách rất lớn. Theo ông, vì sao có sự bất cập này?
Đây chỉ là một góc nhìn về một văn hóa “lạ ở VN”. Tự thể, nó chẳng thay đổi gì nhiều trong thói quen quản trị ở đây. Tuy nhiên, nếu nhiều người trẻ công nhận là những thay máu cho cơ chế rất cần thiết để tiến bộ thì tư duy “từ chức’ sẽ phổ biến hơn và tạo một sinh khí mới cho quốc gia.
- Ông còn điều gì muốn chia sẻ thêm không?
Giữ niềm tin vào chiến thắng sau cùng của công lý và đổi mới. Tiếp tục thẳng tiến, đừng sợ sệt hay rut rè. Chúng ta cón cả một thế giới mới để chinh phục...
October 31, 2012
(Dân trí) – Việc từ bỏ vị trí Chủ tịch Quỹ Đầu tư Viasa được tiến sĩ Alan Phan giải thích rằng ông muốn có được sự khởi đầu của một hành trình mới với những cuộc phiêu lưu, khám phá đầy thú vị trong năm 2013…
Tiến sĩ Alan Phan vừa tuyên bố sẽ từ chức vị trí Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa kể từ 1/1/2013. Phóng viên Dân trí đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ xung quanh câu chuyện này.
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012
VIỆT NAM TÔI ĐÂU? CÂU HỎI CỦA NHIỀU THẾ HỆ
Tuesday, 30 October 2012 20:41
Sau 36 năm, Việt Nam chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, so với đà tiến nhân loại, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức đang trở về với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Người mẹ đang từng cơn xót dạ nhìn đời mà Việt Khang gặp hôm nay không khác gì người mẹ mà tôi gặp đi bán máu ngoài nhà thương Chợ Rẫy mấy chục năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của mẹ ở đâu, chắc chắn mẹ sẽ chỉ ra những nấm mồ vô chủ. Những bầy em đói khổ nghèo nàn màViệt Khang mô tả hôm nay cũng không khác gì đám trẻ tôi đã gặp ở vùng kinh tế mới Đồng Xoài ba mươi lăm năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của các em đâu, các em sẽ chỉ ra những vỉa hè bụi bặm, những góc phố tối tăm. Nhưng hiểm họa đất nước đang phải đương đầu không chỉ là độc tài, tham nhũng mà còn là đại họa mất nước...
*
Buổi trưa ở Chennai. Làm việc xong trên đường trở về khách sạn, tôi nhờ người lái xe đưa đi thăm vịnh Bengal. Đứng bên bờ vịnh nhìn sang phía bên kia bờ là Đông Nam Á. Tôi tự hỏi Việt Nam đang nằm ở đâu sau dòng nước xanh xa thẳm kia. Và cùng lúc tôi chợt nghĩ đến bài hát "Việt Nam tôi đâu" của Việt Khang đang trở thành khẩu hiệu cho tuổi trẻ trong vào ngoài nước.
Việt Nam tôi đâu?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

