Hiển thị các bài đăng có nhãn THƠ VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THƠ VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

VỊNH BỨC DƯ ĐỒ RÁCH


Trần thị LaiHồng sưu tầm

Để nhớ môt thời thơ ấu từng chạy qua nhà thờ Ông Già Bến Ngự



Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939)

Ôn cố tri tân, đọc chuyện xưa nghĩ chuyện nay, dẫu đã ngót trăm năm, hoàn cảnh và tâm trạng có khác, xưa chống ngoại xâm, nay chống giặc ngay trong nước do cấp lãnh đạo cõng về … !



Trước hiểm họa đất nước bị xâm lăng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có bài thơ Vịnh Bức Dư Đồ Rách. Bài thơ in lần đầu năm 1921, trong tập thơ Còn Chơi. Đến năm 1925 được tuyển chọn in trong tập Thơ Tản Đà:
Nọ bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con chắu lấy làm chơi (3)
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi. (4)

Các nhà văn, nhà thơ đương thời cảm tác cùng tác giả, lên tiếng hưởng ứng, ủng hộ tư tưởng của Tản Đà bằng cách có nhiều bài họa lại… Tản Đà đồng cảm liền viết bài họa lại thứ 2 – Vịnh Bức Dư Đồ Rách – 2, đăng trên ĐPTB (Đông Phương Thời báo), số 635, năm 1927:

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi
Ta bồi cho chúng chị em coi
Giận cho con chắu đà hư thế
Nghĩ đến ông cha dám bỏ hoài.
Còn núi còn sông: Nhìn vẫn rõ
Có hồ có giấy dễ mà chơi.
Bởi chưng hồ giấy ta chưa có
Đành chịu ngồi trông rách tả tơi.

Như được chắp thêm cánh, đồng hành bay bổng cùng Tản Đà, các nhà nho, nhà văn có tâm huyết, yêu đất nưóc, dân tộc cùng tham gia họa lại Bức Dư Đồ Rách… Tản Đà viết tiếp bài thứ 3 – Vịnh Bức Dư Đồ Rách – 3, đăng trên Đông Phương Thời Báo số 636, năm 1927:

Đành chịu ngồi trông rách tả tơi
Buồn chăng? Hỡi các chị em ơi!
Nghĩ cho lúc trước thương người vẽ
Ngó lại xung quanh hiếm kẻ bồi
Hồ giấy bây giờ mua kiếm khó
Non sông ai hỡi đợi chờ ai?
Còn núi còn sông còn ta đó
Có lúc ta bồi chúng bạn coi.

Cuối cùng Tản Đà tổng kết cuộc họa thơ do ông khởi xướng bằng bài Vịnh Bức Dư Đồ Rách – 4, cũng đăng trên Đông Phương Thời Báo số 643, cùng năm 1927:

Có lúc ta bồi chúng bạn coi
Chị em nay hãy tạm tin lời
Dẫu cho tài có cao là thánh
Chưa dễ tay không vá nổi trời
Hồ giấy muốn mua, tiền chẳng sẵn
Non sông đứng ngắm lệ nhường rơi
Việc nhà chung cả ai ai đó
Ai có cùng ta sẽ liệu bồi?

Trong số những bài họa, có hai bài của Cụ Phan Bội Châu, cũng cùng năm 1927.
I
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi,
Ta bồi cho chúng chị em coi.
Giận cho con cái đà hư thế,
Nhớ đến ông cha dám bỏ hoài.
Còn núi, còn sông nhìn vẫn rõ,
Có hồ, có giấy dễ như chơi,
Vì chưng hồ giấy ta chưa có
Đành chịu ngồi trông rách tả tơi.
II
Hóa rách ra lành thế mới hay
Trời giăng giấy khắp, đất hồ đầy,
Non sông sẵn vóc thêu hoa gấm,
Gan óc ghe phen trổ gió mây.
Trắng úa, hồng tươi tùy thợ ý,
Bột rền, keo dẻo cốt thầy tay.
Người đà mới mới ta nên mới,
Bồi vá mà chi, kéo khuấy rầy.

Phan Bội Châu
1927

Dưới đây là bản tiếng Anh Vịnh Bức Dư Đồ Rách của Tản Đà, do Giáo sư Huỳnh Sanh Thông chuyển ngữ.

The Tattered Map
Stand there and have a look at that poor map.
Its streams and hills make sorry butts for jokes.
You know how long it took to draw the map?
Why is it now all tattered and torn up?
Our fathers purchased it, left it to us-
how dare their children make a toy of it?
Oh well, it’s no use blaming juveniles.
Let’s all do what we must and mend the map.
Huỳnh Sanh Thông

[From An Anthology of Vietnamese Poems, edited and translated by Huỳnh Sanh Thông, Yale University Press, 1996]



Bài họa Vịnh Bức Dư Đồ Rách, của Trần thị LaiHồng

Nhìn tấm dư đồ rách tả tơi
Non non nước nước ngắm nhìn coi
Cha ông xưa cố công gìn giữ
Con cháu nay hoài của bán chơi !
Ải Bắc xoẹt cắt đầu biên giới
Bờ Đông bò liếm chiếm ngàn khơi
Tổ quốc giang san nay sứt mẻ
Dư đồ một tấm tả tơi rồi !!!!!!!
Trần thị LaiHồng

Hoa bang,tháng 5, 2013,
để nhớ môt thời thơ ấu từng chạy qua nhà thờ Ông Già Bến Ngự

Chú thích :

1. Tản Đà tên thật là Nguyễn khắc Hiếu (1888-1939), người làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn tây.Vì quê ông gần sông Đà và núi Tản Viên , nên lấy bút hiệu là Tản Đà.
2. Cụ Phan Bội Châu (Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 – mất ngày 29 tháng 10 năm 1940) là một nhà cách mạng Việt Nam trong phong trào chống Pháp. Ông đã thành lập phong trào Duy Tân Hội và khởi xướng phong trào Đông Du.

Cụ Phan Bội Châu tên thật là Phan Văn San, tự là Hài Thu, bút hiệu là Sào Nam, Thị Hán, Độc Kinh Tử, Việt Điểu, Hàn Mãn Tử, v.v…
Từng bôn ba khắp nước và qua TRung Quốc, Nhật bản, liên kết với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại để cùng họ chống Pháp. Ông chọn một hoàng thân nhà Nguyễn, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, làm lãnh tụ phong trào Cần Vương.

Có nhiều tác phẩm có tác động lớn với sĩ phu trong nước(Việt Nam Quốc sử khảo (1909), Ngục Trung Thư, Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư,Việt Nam Vong Quốc Sử, Việt Nam Quốc sử bình diễn ca (1927) …) Các tác phẩm của ông đã tạo nên một làn sóng mới thúc đẩy nhiều thanh niên yêu nước tham gia phong trào Đông Du, xuất ngoại học tập để tìm đường chống Pháp. Bị Pháp bắt tại Hàng Châu, dẫn giải về Hà Nội và xử án chung thân khổ sai. Về sau, bản án được đổi lại thành án quản thúc tại gia. Theo Việt Nam Pháp Thuộc Sử, ông được giảm án vì phản ứng mạnh mẽ của toàn dân đối với nhà cầm quyền Pháp.

Từ năm 1926, ông bị đưa về sống ở Bến Ngự, Huế, cho đến khi mất tại Huế vào năm 1940. Lúc đó ông được gọi là Ông già Bến Ngự.
3. Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông (1926-2008) gốc Hóc Môn, từng bị Pháp bắt vì chống chính quyền Pháp. Du học Hoa Kỳ, tốt nghiệp Đại học Ohio, giảng viên Việt ngữ Viện Ngoại vụ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại Washington DC, và chuyển sang dạy Văn chưong việt Nam, Đại học Yale. Ông có về ViệtNam làm việc cho Việt Nam Thông tấn xã và sau đó trở lại định cư tại Hoa Kỳ, dạy tại Đại học Yale , cư ngụ trong khuôn viên Yale cho đến khi qua đời.

Ông từng dịch nhiều tác phẩm văn chương Việt Nam sang Anh ngữ, trong đó có Truyện Kiều/ The Tale of Kieu của đại thi hào Nguyễn Du. GS. Huỳnh Sanh Thông cũng là tác giả của 2 cuốn sách do nhà xuất bản Yale Press ấn hành, là An Anthology of Vietnamese Poems: From the Eleventh through the Twenthieth Centuries (Tuyển tập thi văn Việt Nam: Thế kỷ 11 đến thế kỷ 20) và Flowers from Hell (Hoa địa ngục), tức tập thơ của Nguyễn Chí Thiện. Các tác phẩm này cũng do Đại học Yale xuất bản. Ngoài ra ông là người sáng lập bộ sách Lac-Viet và tạp chí Vietnam Forum (Diễn đàn Việt Nam). Tạp chí này ra được 16 số từ năm 1983 đến năm 1997. Riêng bộ sách Lac-Viet có nhiều bài biên khảo và dịch thuật các bản văn cổ kim như “The Song of a Soldier’s Wife” tức Chinh phụ ngâm và “The Quarrel of the Six Beasts” tức Lục súc tranh công.
Ông từng là Giám đốc dự án Ðông Nam Á của Đại Học Yale, và là sáng lập viên Diễn đàn Việt Nam và cơ sở xuất bản Lạc Việt. GS. Huỳnh Sanh Thông được giải thưởng the AAS Benda Prize năm 1981 và được học bổng MacArthur Fellowship năm 1987.

Giáo sư Huỳnh Sanh Thông còn là giám đốc Yale Southeast Asian Refugee Project (Dự án của Viện đại học Yale về người tỵ nạn Đông nam Á) từ năm 1981 đến 1990.

Ông từng nhận giải “Harry J. Benda Prize in Southeast Asia Studies” vào năm 1981 và “MacArthur Fellowship” vào năm 1987.



Bây chừ Rồng đã cụt chân
Bà con thôi chớ nói gần nói xa
Cũng vì cộng sản mà ra
Quái thai bán đứng đất Cha cho Tàu*
Sử ghi tận mãi ngàn sau
Chao ôi Mẹ Việt nát nhàu...lòng đau !.

*. Phạm Văn Đồng đại diện CS ký văn tự dâng đảo cho Tàu tặc
Bây chừ bọn nó bỏ tù người dân yêu Nước . Lịch sử lại trở lại
thời bị đô hộ bởi Tàu, Pháp.

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

PHÊ BÌNH VĂN HỌC THẾ KỶ XX: PHẢN XẠ PHÊ BÌNH


Thụy Khuê


Phê bình là một trong những sinh hoạt hàng ngày của đời sống, là một phản xạ trước mỗi lựa chọn, mỗi hành động. Xuất phát từ ý thức bản thân: khi nghe một lời nói, một bản tin, một bài diễn văn, xem một cuốn phim, đọc một cuốn sách… phản xạ phê bình luôn luôn hiện diện, “nó” âm thầm “làm việc” trong đầu, chỉ cho ta biết điều này nghe được, điều kia ngụy biện, đoạn văn này dí dỏm, bức tranh này xấu, bản nhạc kia hay, v.v…
Mặc nhiên, ý thức phê bình tiềm ẩn trong óc, nếu muốn lộ diện bằng lời nói hay trên văn bản, “nó” phải “có gan” vượt qua thử thách từ môi trường gia đình đến môi trường xã hội.

Ở phương Tây, sinh hoạt tri thức này sớm được vun xới trong gia đình: Con cái có thể tự do phát biểu trong bữa ăn, đưa ra những nhận xét “độc đáo” để phê bình cha mẹ, mà ít khả năng bị mắng, bị đánh. Do không bị ảnh hưởng nho giáo và được sống dưới chế độ dân chủ từ hơn một thế kỷ, nguời Tây phương có ý thức phê bình cao. Ý thức ấy, chẳng những không bị tiêu diệt từ trứng nước, mà còn có điều kiện phát triển trong toàn bộ sinh hoạt sống và suy nghĩ của con người từ gia đình đến xã hội.
Tại phương Đông, quyền huynh, thế phụ là trật tự kỷ cương, vì vậy, phê bình không những thiếu điều kiện phát triển mà còn bị đàn áp ngay từ đầu: Con cái chỉ có quyền “nghe lời” cha mẹ, chứ không được quyền “phát biểu”. Quyền đối thoại với cha mẹ, cho đến nay hầu như vẫn chỉ ở mức độ tối thiểu, ngay cả trong những gia đình rất Âu hoá, hoặc đang sống ở ngoại quốc. Truyền thống này làm nhụt chí con người: Rụt rè, e ngại, không dám nói trước công chúng trở thành quán tính, đặc sản của người Á đông. Đó là hậu quả của nền giáo dục ảnh hưởng đạo nho trong nhiều thế kỷ.

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DƯƠNG NHƯ NGUYỆN

MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DƯƠNG NHƯ NGUYỆN
Phần Hai

ĐỐI CHIẾU VĂN CHƯƠNG TRONG NƯỚC VỚI HẢI NGOẠI VÀ TIÊU CHUẨN PHÊ BÌNH SÁCH:

***
LỊCH SỬ, SỰ THẬT HAY TIỂU THUYẾT?
“SÔNG HƯƠNG, DỊ HƯƠNG VÀ BÓNG ĐÈ”




Dương Như Nguyện:
• Sản phẩm trung học của VNCH; giải thưởng văn chương phụ nữ VNCH 1975.
• Thành danh ở Mỹ;
• Thập niên 79-80 (lứa tuổi đôi mươi): học báo chí.
• Thập niên 1990-2000 (lứa tuổi 40-50): Xuất bản Mùi Hương Quế; Daughters of the River Huong; Mimi and her Mirror; Postcard from Nam; giải thưởng International Book Awards, loại tiểu thuyết đa văn hóa (Los Angeles).



Đỗ Hoàng Diệu:
• Sản phẩm của XHCN;
• Thành danh ở VN;
• Thập niên 2000 (lứa tuổi đôi mươi):  Bóng Đè không được VN đưa cho giải thưởng văn chương nào cả.



Sương Nguyệt Minh, Quân Đội Nhân dân, VNCHXHCN, viết Dị Hương
Được Hội Nhà Văn VN trao tặng giải thưởng văn chương toàn quốc năm 2010.



Vua Gia Long: Thống nhất sơn hà –
Thế Tổ Cao Hoàng Đế: Quân vương hay ác quỷ của Dị Hương ???


TÓM TẮT PHẦN 1:

Trong Phần 1 của cuộc phỏng vấn thực hiện bởi Quê Hương (QH), Dương Như Nguyện (DNN) nói về phân tích văn chương và phân loại tiểu thuyết. Trả lời câu hỏi của QH về tập truyện Mùi Hương Quế, bà đề cập đến Hồ Xuân Hương, Anais Nin, và Phạm Thị Hoài.

TÓM TẮT PHẦN 2 DƯỚI ĐÂY:

Người đọc tiếng Việt đã xôn xao về một tác phẩm (không phải là tác phẩm văn chương)
đã bị từ chối không cho xuất bản ở VN, nhưng lại được tung ra thị trường ở hải ngoại, gây nhiều bàn cãi trong dư luận về giá trị lịch sử: đó là cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức. Nhân dịp này, QH tiếp tục đưa ra một đối chiếu khác, qua Phần Hai cuộc mạn đàm văn chương với Giáo Sư Dương Như Nguyện. Tuy trọng tâm cuộc mạn đàm là thế giới của văn chương sáng tạo và nghệ thuật tiểu thuyết, DNN đã nhắc đến và nêu kết luận về tiêu chuẩn chung cho tất cả các sách bất kỳ loại nào. Bà gọi tiêu chuẩn đó là “cái khuôn vuông tròn” để đo lường bất cứ cuốn sách nào “trong công việc đi tìm và phô bày sự thật,” cũng như “trách nhiệm của ngòi bút trước độc giả và lịch sử.”
Đầu thập niên 2000, Giáo Sư DNN đã nghiên cứu về tiêu chuẩn phân tích và phê bình văn chương sáng tạo (thuộc về chương trình “post J.D.” của Bà tại đại học Harvard). Năm 1978, khi cộng đồng người Việt ở Mỹ con rất phôi thai, Bà tốt nghiệp báo chí hạng Tối Ưu từ đại học Nam Illinois, nơi giảng dạy của cố giáo sư ngữ học VN, Tiến Sĩ Nguyễn Đình Hòa. Bà phụ giảng cho giáo sư Hòa một niên khoá năm bà chỉ mới 19 tuổi. Trong Phần Hai của cuộc mạn đàm với Quê Hương, đăng tải dưới đây, Bà nói về tiêu chuẩn phê bình qua cách phân loại sách, đồng thời đối chiếu văn chương sáng tạo trong và ngoài nước qua dạng tiểu thuyết lịch sử.
Bà so sánh “mùi hương” và “bóng…” bằng cách nói đến tác phẩm Dị Hương và Bóng Đè, đã xuất bản trong nước.

TRÍCH: “Giá trị văn chương sáng tạo phải tuỳ thuộc vào mục đích, ngụ ý , biểu tượng, chủ trương và chiều sâu tư tưởng của tác giả, cũng như cái đẹp của tác phẩm về phương diện mỹ thuật. Công cuộc phẩm định giá trị ấy là chỗ đứng cao quý, lương tâm, đạo đức và mỹ thuật tính của nhà phê bình. Theo tiêu chuẩn của Roland Barthes, thì nhà phê bình cũng là nhà sáng tạo. Đạo đức của cây viết đặt nặng trên cả hai: nhà văn sáng tạo và nhà phê bình văn chương, hai thế đứng khác nhau, cùng chung một sứ mạng. Theo tôi, đó là sứ mạng đem cái đẹp và nhân bản tính vào công cuộc đi tìm sự thật của nhân loại: đi tìm lòng cao thượng ở chốn bùn lầy, đi tìm sự hàn gắn cho tất cả mọi đổ vỡ, đi tìm hy vọng cho mọi thảm kịch, rồi gói ghém tất cả vào nghệ thuật cô đọng của ngôn ngữ, diễn tả qua lời kể truyện. Như thế, nhân vật trở thành nhân chứng. Tôi gọi việc gói ghém này là “cái khuôn vuông tròn và tính chất trọn vẹn của một tiểu thuyết văn chương!”
“…Còn những tác phẩm nghiên cứu hay tường thuật, theo dạng “phi tiểu thuyết” (non-fiction), thì dĩ nhiên độc giả và nhà phê bình không cần đi vào thế giới sáng tạo của văn chương. Tuy thế, tác giả cũng vẫn phải hoàn tất “cái khuôn vuông tròn” ấy, trong việc đi tìm và phô bày sự thật. Đó là trách nhiệm chung của ngòi bút trước độc giả và lịch sử!”



Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

TRẠI SÚC VẬT

CHUYỆN Ở NÔNG TRẠI hay Trại Súc Vật —
Animal Farm của văn hào Anh George Orwell

Trần Mạnh Hảo
March 16, 2013



CHUYỆN Ở NÔNG TRẠI hay TRẠI SÚC VẬT
Hoan hô nhà thơ Hữu Thỉnh và nhà văn Trung Trung Đỉnh đã đi cùng nhân dân chống chế độ độc tài khi cho in tuyệt tác TRẠI SÚC VẬT.
Việc nhà xuất bản Hội Nhà Văn [của Hội Nhà Văn Việt Nam] và nhà sách Phương Nam đã cho in và phát hành tiểu thuyết nổi tiếng TRẠI SÚC VẬT đầu năm 2013 với một cái tên khác là CHUYỆN Ở NÔNG TRẠI [Animal Farm] của văn hào Anh George Orwell đã làm nức lòng người yêu văn học trong cả nước. Cứ tưởng cuốn sách được liệt vào hàng chống cộng nhất thế giới này sẽ không bao giờ được in ở Việt Nam khi nào chế độ cộng sản còn cai trị.
TRẠI SÚC VẬT đã bị cấm in ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Chỉ đến khi Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ cuốn sách mới được in ở các nước tân dân chủ tự do này.
Báo Quân Đội Nhân dân đã hỗ trợ tinh thần dân chủ tự do của hai anh Hữu Thỉnh và Trung Trung Đỉnh, đã giới thiệu TRẠI SÚC VẬT trên trang QDND online rất trang trọng (nhưng nay đã rút xuống). Nội dung cuốn sách mô tả các đồng chí súc vật xây dựng xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản rất nhiêu khê và hài hước, một tấn bi hài kịch vô cùng hấp dẫn .
Người viết bài này mấy chục năm trước đã nghe đài BBC đọc kiệt tác này nhiều ngày trên đài.
Gió đã xoay chiều chăng? Tự do dân chủ đang đến trước cửa mỗi gia đình Việt Nam chăng ? Hi vọng đây là tín hiệu tốt lành cho quê hương đau khổ của chúng ta.
http://nhasachphuongnam.com/sach/van-hoc-nuoc-ngoai/van-hoc-anh/chuyen-o-nong-trai.html
George Orwell



Eric Arthur Blair
Sinh: 25 tháng 6, 1903
Motihari, Bihar, Ấn Độ
Mất: 21 tháng 1, 1950
Luân Đôn, Anh
Bút danh: George Orwell
Công việc: Nhà văn; phóng viên

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

BÊN THẮNG/BÊN THUA & NHỮNG KẺ BÊN LỀ


Tháng 1 9, 2013

Tưởng Năng Tiến

Cơn sốt rét triền miên
Tóc mọc rồi lại rụng
Mùa xuân thành báo động
Đoá hoa nhầu trên tay
Hơn mọi sự anh hùng
Là điều này nhỏ bé
Làm vợ và làm mẹ
Tuổi ba mươi chối từ
(Anh Ngọc)

Đầu tháng 12 năm trước, Huy Đức cho trình làng Bên thắng cuộc với lời thưa đầu tuy rất tự tín nhưng cũng vô cùng nhũn nhặn:
“Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chắc chắn sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau.”

Vài hôm sau, BBC ghi nhận công trình biên khảo của Huy Đức là một trong “Mười chuyện nổi bật ở Việt Nam năm 2012.” Nói cho chính xác: Bên thắng cuộc không chỉ “nổi bật” ở Việt Nam, và nguyên do cũng không phải chỉ vì “tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng” mà (có lẽ) là vì nó đã được viết với sự công tâm – dù mọi vấn đề không hẳn đã luôn luôn được trình bầy một cách khách quan, như mong đợi.

Trước đây, vào năm 2009, nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng đã nói đến cái tâm của người bạn đồng nghiệp của mình với ý (gần) tương tự:
“… có trí lự để viết những bài báo như Huy Đức cũng không ít người, cũng không ít người có thể viết hay hơn, nhưng có cái tâm sáng trưng như thằng Huy Đức để nói thẳng, nói to những điều tâm huyết như nó thì quả là hiếm.”

Nhiều vị thức giả, của cả đôi bên, đã có lời bàn vô (cũng như bàn ra) về Bên thắng cuộc. Thường dân thứ như tôi, cái thứ muôn đời luôn luôn ở về phe nước mắt nên không dám nói leo (hoặc bàn theo) ai mà chỉ xin được phép thưa thêm – đôi lời – về Những Kẻ Ở Bên Lề.

THỬ PHÁC HỌA CHÂN DUNG MỘT THƯỜNG DÂN


Đoàn Nhã Văn

Biến cố 4/1975 khởi đầu cho một cuộc di dân vĩ đại có một không hai trong lịch sử Việt Nam, với hằng triệu người đã ra đi, bằng nhiều cách khác nhau, suốt nhiều năm dài. Trong số đó, có ông. Từ một người lính, làm một lưu dân, rồi ông cầm bút, dù thừa biết rằng, sách bút không nuôi sống được ai. Những năm đầu 1980’s, ông có hai tác phẩm: “Măng Đầu Mùa” (in chung với Võ Hoàng) và “Cuộc Chiến Chưa Tàn”. Bẵng đi một thời gian khá lâu, độc giả không thấy ông viết truyện ngắn nữa mà chuyển sang viết bình luận thời sự và chính trị, những bài viết đẩy tên tuổi ông đi xa hơn. Từ đó đến nay, hầu như những người còn đọc sách báo Việt Ngữ, quan tâm đến thời cuộc, đặc biệt là những công-dân-mạng, ngoài nước, dường như không ai không biết đến tên ông.

Biết tên ông, nhưng ông là ai? Nếu hỏi thẳng, vào thời điểm này, biết chừng, ông sẽ cho chúng ta một câu trả lời thú vị. Nhưng thôi, hãy nghe ông nói chút ít về mình, từ những ngày xa xưa lắm: “hồi nhỏ đi chơi, đi học, lớn lên đi lính, đi tù… (CS), ra tù lang thang, vượt biển đến Mỹ, làm báo Nhân Văn.” Hỏi thêm: đi lính ra sao? Ông bảo: “Tôi rất hay quên đội nón, quên cài nút áo, quên gôm ống quần. Toàn là những thứ quên lãng hợp lý nhưng lại không được chấp nhận ở đời sống quân trường. Tôi thích nhìn nắng chiều hay nắng sớm lao xao trên những hàng cây nên đôi khi còn quên chào luôn cả niên trưởng.” (Thằng lính bạc tình)

Thì ra, ông từng là một anh lính thuộc loại … ba gai.

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

HAI NỀN PHÊ BÌNH. ROLAND BARTHES


ROLAND BARTHES

(Nguồn: Roland Barthes. Essais critiques. Seuil, 1964, tr. 246-251)


Nhà phê bình Roland Barthes - Ảnh: wiki

Hiện thời ở Pháp, chúng ta có hai nền phê bình diễn ra song song: nền phê bình mà ta sẽ gọi cho đơn giản là đại học, lấy phương pháp thực chứng được kế thừa từ Lanson(1) làm căn bản, và nền phê bình lý giải mà những người đại diện của nó tuy rất khác nhau - vì đó là J.-P. Sartre, G. Bachelard(2), L. Goldmann(3), Poulet(4), J. Starobinski(5), J. P. Weber, R. Girard(6), J.-P. Richard(7) - nhưng giống nhau ở chỗ cách tiếp cận các tác phẩm văn học ở họ có thể ít nhiều gắn một cách có ý thức với một trong các ý hệ lớn lúc này như: chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Marx, tâm phân học, hiện tượng học, đó là lý do tại sao ta có thể gọi nền phê bình này là lối phê bình ý hệ, đối lập với nền phê bình thứ nhất vốn không thừa nhận bất cứ một ý hệ nào và chỉ căn cứ theo một phương pháp khách quan. Tất nhiên, giữa hai nền phê bình nói trên có những mối liên hệ: một mặt, nền phê bình ý hệ hầu như lúc nào cũng do các vị giáo sư thực hiện, bởi ở Pháp, như mọi người đều biết, vì lý do truyền thống và nghề nghiệp mà vị thế trí thức dễ bị lẫn lộn với vị thế đại học; mặt khác, phía Đại học cũng đã thừa nhận nền phê bình lý giải, bởi lẽ một số công trình viết theo lề lối phê bình ấy là những luận án tiến sĩ (quả thực đã được các hội đồng triết học công nhận một cách phóng khoáng hơn so với các hội đồng văn học). Tuy nhiên, chưa nói gì đến mối xung đột, trên thực tế giữa hai nền phê bình này có đường phân thủy. Tại sao vậy?

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

BÀN VỀ CƠN SỐT KHỔNG TỬ HIỆN NAY.


Lưu Hiểu Ba
November 27, 2012

Hôm qua chó nhà tang, hôm nay chó gác cửa: Bàn về cơn sốt Khổng Tử hiện nay

Lời giới thiệu của người dịch

1. “Chó nhà tang” và “chó gác cửa” ở đây chỉ Khổng Tử. Đề tài này có thể hơi nhạy cảm với ít nhiều trí thức Việt Nam, vì nó đưa ra một cái nhìn hơi lạ về một người quen, và có lẽ cũng vì trong Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay vẫn có bệ thờ Khổng Tử.Thoạt đọc, bài này có vẻ như muốn ‘hạ bệ’ Khổng Tử, nhưng đọc kỹ, người đọc sẽ thấy Lưu Hiểu Ba muốn tìm lại sự thật cho Khổng Tử, và thấy Khổng Tử cũng như nhiều trí thức xưa nay lúc thì bị ruồng rẫy, khi thì được ‘phong thánh’, được gán cho nhiều điều mình không có, và trở thành bao tay nhung che cho bàn tay sắt.

2. Tên của Khổng Tử và Lưu Hiểu Ba trong vài năm qua nhiều lần được nhắc chung. Lưu Hiểu Ba viết bài này về Khổng Tử ngày 18/8/2007. Năm 2010, nhà cầm quyền Trung Quốc vội vã thành lập Giải Khổng Tử để đối trọng với Giải Nobel Hòa Bình vừa được trao cho Lưu Hiểu Ba, vì nỗ lực đấu tranh cho nhân quyền của ông. Cũng nên nhắc lại là vào Lễ Noel 25/12/2009, Lưu Hiểu Ba bị Bắc Kinh kết án 11 năm tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước, còn Giải Khổng Tử năm 2011 thì được trao cho Vladimir Putin, lãnh tụ Nga có khuynh hướng độc tài.*

3. Cơn sốt Khổng Tử mà Lưu nói tới vẫn kéo dài đến nay. Viện Khổng Tử (gần như Viện Goethe, Hội Đồng Anh…) công cụ của quyền lực mềm trong tay nhà cầm quyền Trung Quốc, mở cơ sở đầu tiên năm 2004, đến nay đã có hơn 320 Học viện được thành lập trên thế giới, trong đó 1/5 là ở Mỹ.**

4. Đọc bài này, rất có thể người đọc sẽ nêu câu hỏi: Liệu có điểm gì giống nhau giữa Viện Khổng Tử và Viện Trần Nhân Tông, Giải Khổng Tử và Giải Trần Nhân Tông được nhắc tới gần đây với ít nhiều nghi ngại hay không.

5. Bản dịch này dựa trên bản tiếng Anh, có tham khảo bản tiếng Trung. Bản tiếng Anh có tựa “Yesterday’s Stray Dog Becomes Today’s Guard Dog” (Chó hoang hôm qua nay thành chó giữ nhà) do Thomas E. Moran dịch, in trong cuốn No Enemies, No Hatred (Không thù, không ghét) tuyển tập luận văn và thơ Lưu Hiểu Ba, do Perry Link, Tienchi Martin-Liao và Lưu Hà biên tập, xuất bản năm 2012 tại Anh Quốc. Bản tiếng Trung có tựa “昨日丧家狗 今日看门狗 – 透视当下中国的“孔子热”(Tạc nhật táng gia cẩu, kim nhật khán môn cẩu, thấu thị đương hạ Trung Quốc đích “Khổng Tử nhiệt”), xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com. P.T.

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

TỪ XUÂN HƯƠNG ĐẾN VÔ KỴ, CẤU TRÚC PHÊ BÌNH HAY PHÊ BÌNH CẤU TRÚC LUẬN ĐỖ LONG VÂN




NGUYỄN QUỐC TRỤ.

TƯỞNG NIỆM ĐỖ LONG VÂN.

http://www.tanvien.net/Tuong_niem/do_long_van.html

Vô Kỵ Giữa Chúng Ta
Đỗ Long Vân, tác giả Truyện Kiều ABC, Vô Kỵ Giữa Chúng Ta, Nguồn Nước Ẩn Trong Thơ Hồ Xuân Hương... đã mất tháng Tám năm vừa qua (1997), tại quê nhà. Người biết chỉ được tin, qua mấy dòng nhắn tin, trong mục thư tín, trên tạp chí Văn Học, số tháng Ba, 1998.
Ngay từ trước 1975, ông đã sống một cuộc sống lặng lẽ, "từ chối" mọi đặc quyền, nếu có thể gọi đây là một đặc quyền mà chế độ Miền Nam dành cho những người có bằng cấp: được đi học trường sĩ quan Thủ Đức. Khi bị gọi động viên, ông đã trình diện như là "lính trơn", nghĩa là chẳng trưng ra những bằng cấp, chẳng nhớ gì (?) tới những năm tháng du học Paris. Bạn với một số bạn lặng lẽ: Joseph Huỳnh Văn, Phạm Kiều Tùng, hình như có cả Nguyễn Tử Lộc, và đứa em út trong bọn, Nguyễn Đạt (gọi là em út, vì nhà thơ này là em ruột Nguyễn Nhật Duật), nghĩa là hầu hết anh em trong nhóm Tập San Văn Chương. Khi cả bọn xúm nhau làm tờ báo, chỉ có Joseph Huỳnh Văn,"Tổng Thư Ký" tòa soạn, mới đủ tư cách mang "cẩm nang võ công của Trương Tam Phong, tổ sư phái Võ Đang", nói nôm na, những bài Cầm Dương Xanh của anh, tới "Thiếu Lâm Tự", Bắc Đẩu Võ Lâm, để đổi lấy một cách đọc bí kíp/văn bản: Hãy đọc ở độ thấp nhất, mức độ ABC, của nó.
Tôi chỉ còn giữ được một kỷ niệm về Đỗ quân, về Nguồn Nước Ẩn, khi cuốn sách được xuất bản, thời gian tôi đang phụ trách trang Văn Học Nghệ Thuật cho một nhật báo. Bèn viết bài giới thiệu.
Phải nói rõ một điều: Đỗ Long Vân, cũng như tôi, và nhiều người khác nữa, đều có chung một số ông thầy. Và cái trường phái võ học/văn chương đang thịnh hành hồi đó là cơ cấu luận, với những đại gia như Roland Barthes, Claude Lévi-Strauss... Khi đọc Nguồn Nước Ẩn, trí óc tôi còn tràn ngập những hình ảnh, những chiêu thức phê bình văn chương, thí dụ như, phê bình là siêu-ngôn ngữ, phê bình là một bản văn (choàng, cover) trên một bản văn, là sáng tạo của sáng tạo... Nói tóm lại, tôi không đọc tác phẩm của Đỗ quân, mà chỉ lo ca tụng nguồn võ công đã sản xuất ra một chiêu thức kỳ tuyệt như thế.
Vẫn là câu chuyện Cửu Dương Chân Kinh, của Thiếu Lâm, và võ công của Trương Tam Phong, tổ sư Võ Đang. Tuy thoát thai từ Cửu Dương Công, nhưng Miên Chưởng, Thái Cực Quyền/Kiếm... là hoàn toàn do Trương Tam Phong tổ sư sáng tạo ra. Theo nghĩa đó, Cửu Dương thần công chỉ đạt tới mức siêu việt của nó, qua nhân vật Vô Kỵ, người mang trong mình tất cả những võ công chính tà: Cửu Dương/Càn Khôn Đại Nã Di. Nếu không có Trương Tam Phong, không có Cửu Dương Công, bởi vì nó sẽ mục nát trong Tàng Kinh Các, hay mãi mãi "ở trong dầu", tức là trong bụng một con vượn.
Đây một chân lý văn chương/võ học, theo ý nghĩa của Borges, khi ông viết về Kafka: mỗi nhà văn phải sáng tạo ra những tiền thân của riêng người đó. Bản thân Borges ảnh hưởng nặng nề Kafka, nhưng giữa những ngụ ngôn của ông, và của Kafka là một khoảng cách vời vợi.
Buổi sáng đó, Đỗ quân rời núi, tới chùa (quán Cái Chùa, ở đường Tự Do, Sài-gòn); khi một người nào đó, cùng ngồi bàn, nhắc tới bài điểm sách, và cho rằng, đây là những lời khen tác giả Nguồn Nước Ẩn, ông nhìn tôi, cười: Bạn ơi, bạn đâu có khen tôi, mà là khen Roland Barthes.

Tatyana Tolstaya, trong một bài tưởng niệm nhà thơ Joseph Brodsky, có nhắc đến một cổ tục của người dân Nga, khi trong nhà có người ra đi, họ lấy khăn phủ kín những tấm gương, sợ người thân còn nấn ná bịn rịn, sẽ đau lòng không còn nhìn thấy bóng mình ở trong đó; bà tự hỏi: làm sao phủ kín những con đuờng, những sông, những núi... nhà thơ vẫn thường soi bóng mình lên đó?
Chúng ta quá cách xa, những con đường, những sông, những núi, quá cách xa con người Đỗ Long Vân, khi ông còn cũng như khi ông đã mất. Qua một người quen, tôi được biết, những ngày sau 1975, ông sống lặng lẽ tại một căn hộ ở đường Hồ Biểu Chánh, đọc, phần lớn là khoa học giả tưởng, dịch bộ "Những Hệ Thống Mỹ Học" của Alain. Khi người bạn ngỏ ý mang đi, ra ngoài này in, ông ngẫm nghĩ rồi lắc đầu: Thôi để cho PKT ở đây, lo việc này giùm tôi....
NQT

Từ Xuân Hương đến Vô Kỵ, cấu trúc phê bình hay phê bình cấu trúc luận Đỗ Long Vân

14:17 | 27/07/2012

NGUYỄN MẠNH TIẾN

“Sự định cơ cấu đã trở nên cái phần cám dỗ nhất của phê bình”

Đ.L.V


Chân dung Đỗ Long Vân qua nét vẽ của Đinh Cường

Văn học miền Nam Việt Nam 1954 - 1975, tiếp nhận lý thuyết phương Tây vào nghiên cứu văn học đến từ nhiều suối nguồn. Trong đấy, trường phái lý thuyết chủ đạo hiện tượng luận, như thái sơn bắc đẩu, là bá chủ của hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học (1). Song, bên cạnh, các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình văn học khác vẫn kiến tạo được sinh quyển riêng để tồn tại, phát triển, nên cũng có thành tựu với nhiều công trình độc đáo. Trong đấy, tiêu biểu có phê bình văn học theo cấu trúc luận (2).

Đỗ Long Vân, có thể xem là “minh chủ” của phê bình văn học cấu trúc luận ở miền Nam thời ấy. Chỉ có điều, vị minh chủ cô đơn ấy, một mình một phái, song không vì thế mà phê bình cấu trúc ở miền Nam mất tiếng nói. Đỗ Long Vân tài hoa và uyên bác, với một văn thể uyển chuyển, mạnh, nhanh như đao Đồ Long vẫn khiến quần hùng văn bút phải kính nể. Đọc trở lại Đỗ Long Vân, chỉ qua hai công trình: Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương và Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung (3), chúng tôi sẽ lần giở ngược trở lại vào cấu trúc phê bình văn học, như chính là phê bình cấu trúc luận của Đỗ Long Vân. Hy vọng, qua đấy, tái diễn giải nhằm giới thiệu thêm/lại bậc cao thủ Đỗ Long Vân, người xuất hiện sớm nhất, mở ra phê bình văn học cấu trúc/cơ cấu luận tại Việt Nam.

1.

Như là một kẻ có cơ may được chiêm ngắm cơ cấu của Đồ Long đao, cái bí kíp phê bình cấu trúc luận Đỗ Long Vân sẽ dần được vén mở khi chúng ta tìm cách trả lời cho câu hỏi: suối nguồn nào đã cộng thông vào trong tư tưởng, phương pháp phê bình văn học Đỗ Long Vân?

Câu hỏi vừa tuôn ra lập tức va phải câu trả lời là bởi chính sự tiếp nhận rất sớm cấu trúc luận ở miền Nam trong học đường, cũng như nhiều ngành khoa học khác nhau. Thật vậy, lời xác nhận của một người học trò cũ trường miền Nam, nhà nghiên cứu triết học có thẩm quyền bậc nhất hiện nay Bùi Văn Nam Sơn về sự phổ biến tư tưởng cấu trúc luận trong học đường, cho thấy, cấu trúc luận được biết đến ở miền Nam thời trước là khá phổ biến (4). Cấu trúc luận, vì thế, được tìm hiểu (5), áp dụng trong nhiều ngành khác nhau như triết học (6), ngữ học (7), dân tộc học (8) và nghiên cứu, phê bình văn học (9).

Như vậy, một cách sơ thảo, vẫn cho thấy gương mặt tiếp nhận cấu trúc luận ở miền Nam thời bấy giờ được hằn lên những đường nét tương đối rõ. Đồng thời, phải nói thêm về Đỗ Long Vân, người có một mối liên hệ tư tưởng khá mật thiết với cấu trúc luận, mà trong đấy rõ nhất là dấu ấn của R.Barthes và xa hơn là C.Lévy- Strauss (10). Cấu trúc luận, vì thế, qua ngả Pháp, chảy về Đỗ Long Vân trên đất Việt, thành nguồn nước ẩn giúp ông kiến tạo nên các tác phẩm phê bình văn học, mà rồi đây, sẽ thành của gia bảo trong cái gia tài vốn hiếm muộn, nhỏ lẻ là phê bình cấu trúc luận tại Việt Nam.

Theo đúng quy luật của kẻ dò đường, phê bình văn học Việt Nam, mỗi khi muốn đưa vào thành công một lý thuyết, một phương pháp phê bình mới, buộc phải thử lửa với những đứa con kiêu kỳ, khó hiểu, không dễ chiều nên cao giá của văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung oán ngâm hay hiện tượng cắc cớ Hồ Xuân Hương. Đỗ Long Vân chọn Hồ Xuân Hương. Người đẹp sắc sảo, nửa kín nửa hở, vừa mặn mà lại chua chát, quen mặt nhưng khó tán ấy là đối tượng ve vãn của nhiều hảo thủ phê bình, tay chơi lý thuyết ở Việt Nam. Phê bình phân tâm học cũng đã chọn Xuân Hương để dương danh, lập uy và đã thành công. Bậc tiên chỉ Nguyễn Văn Hanh mở đường vào lòng nàng bằng phân tâm học Freud, để từ đấy, sẽ trở nên nổi tiếng với quan điểm cơ giới: ẩn ức - thăng hoa - sáng tạo. Đỗ Lai Thúy, người phân tâm học đến sau từ một hướng khác với Jung đã có với nàng một khung trời riêng, một “hoài niệm phồn thực”. Phê bình phân tâm học chọn Hồ Xuân Hương và thành công vang dội. Nay, phê bình cấu trúc luận Đỗ Long Vân cũng quyết định chọn Xuân Hương, và Đỗ Long Vân cũng được nàng chiều lòng mà để lại một giọt máu-mực, chảy lan tràn, đẫm mộng mơ nhưng chặt chẽ trong tác phẩm phê bình xuất sắc Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương.

Đọc Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương cũng như Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung, chúng tôi chọn cách đọc lộn ngược, đọc từ cuối tác phẩm đọc lên. Đọc lộn ngược nhưng không phải như Tây Độc, vì luyện nhầm, luyện không nổi, luyện sai bí kíp đến nỗi “tẩu hỏa nhập ma”, suốt đời chúc đầu xuống đất. Ngược lại, đọc lộn ngược là con đường lớn để hiểu bí kíp phê bình Đỗ Long Vân, phải đọc từ cuối sách, nơi mà trong khoảng đất/giấy đã cạn dòng, họ Đỗ mới để lộ thực chiêu, làm lộ ra quan niệm phê bình một cách hiển ngôn. Đọc những trang cuối tác phẩm phê bình Hồ Xuân Hương, chúng ta ngày nay hẳn phải kinh ngạc với họ Đỗ khi vào thời điểm những năm 60 thế kỷ trước, ở đất nước Việt Nam mà lý thuyết luôn luôn đến rất muộn nhưng Đỗ Long Vân đã sớm xác quyết một quan niệm phê bình hiện đại chủ nghĩa, trên văn bản rất cụ thể.

Trên căn nền của cấu trúc luận, Đỗ Long Vân đã kêu gọi đoạn tuyệt với lối phê bình mà ông gọi là “giảng văn” cứ lấy “tiểu sử, hoàn cảnh cụ thể (sinh lý, văn học, chính trị, xã hội) tác giả đã sống” để cắt nghĩa văn bản. Đỗ Long Vân chọn theo “một giả thuyết mới của phê bình, trước hết “phải trả cho tác phẩm sự mạch lạc của nó”. Giả thuyết của lối phê bình mới mà Đỗ Long Vân nói tới, chúng ta hiểu đích xác là phê bình văn bản hiện đại. Chính bởi thế, trong tình thế ngày hôm nay, chúng ta càng nhận thấy rõ ý nghĩa lớn lao ở những dòng sau đây của Đỗ Long Vân khi ông viết về “cái hay” của phương pháp phê bình mới, mà cụ thể là phê bình cấu trúc luận: “trở lại tác phẩm, tra vấn tác phẩm đến cùng, tìm nghĩa tác phẩm ngay trong chính tác phẩm”. Hiện đại hóa phê bình văn học Việt Nam, như vậy, có thể nói diễn ra ngay từ những năm 60 thế kỷ trước với phê bình hiện tượng học và cấu trúc luận. Nhưng một nhà cấu trúc luận thì khác một nhà hiện tượng luận. Cùng là trở về ngôi nhà của hữu thể văn bản đấy, nhưng nhà hiện tượng luận, như Lê Tuyên chẳng hạn, sẽ kiến tạo nghĩa cho tác phẩm bằng cách rọi phóng ý hướng tính của mình lên tác phẩm. Đọc văn học của nhà hiện tượng luận, vì thế, là lối đọc dựng xây, đọc kiến tạo nghĩa, làm nên một sinh thể tác phẩm mới, mang dấu ấn của riêng mình. Nhà cấu trúc luận như Đỗ Long Vân thì không thế. Đỗ Long Vân quan sát, soi xét vào, tháo rời các yếu tố dựng nên tác phẩm. Sau đó, tìm kiếm những “thường tố”, tức cái yếu tố chính “được dùng nhiều nhất” trong tác phẩm. Tiếp theo, Đỗ Long Vân viết: “lấy những thường tố ấy, tìm chỗ ăn khớp với nhau giữa chúng và xếp chúng lại. Xếp chúng lại rồi, nghĩa là sau khi đã duy nhất chúng, người ta có cái người ta gọi là cơ cấu của tác phẩm”. Ở một chỗ khác, Đỗ Long Vân lại viết: “phân tích, phối hợp, ấy là những động tác căn bản của cơ cấu luận”. Nói theo ngôn ngữ cấu trúc luận kiểu Barthes, Đỗ Long Vân đã thực hành hai thao tác nền tảng của cấu trúc luận là chia nhỏ (découpage) và tái cấu (agencement) (11).

2.

Hoạt động phê bình văn học của Đỗ Long Vân, vì thế, được chúng tôi hình dung trong kinh lịch một cao thủ võ hiệp, tỉ mẫn ngồi chiêm nghiệm, kiếm tìm các bí kíp đã dựng xây nên tuyệt đỉnh công phu tác phẩm văn học. Trong một thời khắc trầm tư phê bình lóe sáng, họ Đỗ đã tìm thấy cấu trúc dựng nên tuyệt tác văn học. Tỷ dụ như, đọc Hồ Xuân Hương, Đỗ Long Vân đã: “xếp cơ cấu thơ Hồ Xuân Hương quanh trực giác của một nguồn nước ẩn”. Thế giới thơ nàng Hồ là một thế giới bị vây khổn, hay khác đi, thế giới ưỡn mình ra giữa trăm chiều ướt át. Tháo rời các chi tiết trong thơ Xuân Hương, Đỗ Long Vân gặp cái “thường tố”: mọi sự trong thơ Xuân Hương đều “chảy nước”. Nước trong thơ nàng gọi về sự âm ỷ, liên lỉ khi thì chảy nhừa nhựa như giọt mủ mít, khi thì ồn ào, tuôn trào, dữ dội trong cái nên thơ một lạch đào nguyên, hay cám cảnh, bi ai trong phận bảy nổi ba chìm giữa nồi nước bỏng. Nước “tăn teo”. Nước “dòng thông”. Nước “lộn giời”. Nước “cực lạc”. Nước “vỗ tông tông”. Nước “vỗ phập phồng”. Nước “lõm bõm”. Nước “trắng xóa”. Nước “phẳng lặng lờ”. Hay có khi, nước là “nguồn ân”, “bể ái”. Nước như “giếng thanh tân”, như “giọt hữu tình”, như “lăn tăn”… Nói gọn lại, nước-Xuân-Hương là “kết-tinh-thể của đào nguyên”. Có thể nói, với phát hiện ra cái nhân vĩnh cữu trong thơ Hồ Xuân Hương là dự phóng bất tận nơi nguồn nước ẩn, Đỗ Long Vẫn đã trả lời cho vấn đề cốt lõi, tìm thấy “cái nhân nguyên ủy” dựng nên thế giới nghệ thuật đa diện, lắm sắc màu, nhiều cám dỗ trong thi giới nữ sỹ Hồ Xuân Hương.

Là người, ai cũng có trong mình nguồn nước ẩn. Khi đêm thanh, lúc ngày dài, vui chóng, buồn chầy, cái nguồn nước ẩn, ẩm ướt tự nhiên nhi nhiên trong người chúng ta vẫn mời mọc, giục giã, cất tiếng gọi sâu thẳm đòi để được hiện hữu. Nhưng người đời, vì vướng víu giữa nhiều cấm kỵ, lắm ràng buộc đã không dám thừa nhận một nguồn nước ẩn giấu kín trong mình. Người đành sống vong thân với số kiếp xa nguồn đến vĩnh cữu. Hồ Xuân Hương không thế, cá tính nàng quyết liệt. Nàng muốn mình là một triển diễn đến vô tận nguồn ân bể ái. Nàng đòi cho được quyền lợi hiện hữu sống động với nguồn nước ẩn trong mình. Xuân Hương muốn nguồn nước ẩn mãi phún trào. Thơ Hồ Xuân Hương, do đó, để tâm tình sáng lên mặt chữ.

Sống giữa nguồn nước ẩn thôi thúc, giục giã, réo gọi, Hồ Xuân Hương rơi vào tình thế phải bạo động chữ nghĩa để làm hiện hữu nhục tình. Thơ nàng Hồ, vì thế, toàn hiện ra trong những tình cảnh oái ăm của sự mời gọi, của cái cơ sự đã/luôn chín nẫu, mà chỉ cần khẽ chạm vào thì sẽ có ngay một nguồn nước ẩn phún trào: con ốc nhồi nằm chờ “bóc yếm”, quả mít khát chín đợi “cắm cọc”, cái quạt da dù thiếu luôn khát khao “chành ra ba góc”, đã là trai thì “khom khom cật”, đã là gái thì “ngửa ngửa lòng”… thế giới, cuộc đời hiện lên như gói vào cái toàn thể “mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Từ con người nội giới, Hồ Xuân Hương rọi phóng ý thức cá nhân của mình ra thế giới bên ngoài. Vì thế, thơ nàng nuôi giữ một tín niệm thành khẩn về sự vật thế giới cũng được tạo tác từ một nguồn nước ẩn. Thế giới trong thơ Xuân Hương, vì thế, đầy ham muốn triển nở sự phồn sinh lên cảnh vật. Đỗ Long Vân gọi đấy là sự “bạo động làm sái cảnh” trong thơ Xuân Hương. Cảnh vật nếu vốn bình thường, đi vào thơ Xuân Hương, qua một nguồn nước ẩn đàn bà, cảnh trở nên bất thường vì đã bị nàng cố tình “vặn cổ chữ nghĩa”: “chín mõm mòm”, “xanh om”, “vỗ tông tông”, “rung lắc cắc”… Ngôn ngữ thơ Xuân Hương, vì thế, đầy mê hoặc, lưỡng ý, thậm chí đa ý, làm ướt át cả thế giới mơ tưởng của người đọc. Đọc Xuân Hương, do vậy, có niềm sướng khoái của hành vi ăn trái cấm, hay, được tắm tẩy tự do trong nguồn nước ẩn hiểm nguy, cấm kị một cách an toàn, hợp pháp, viên mãn. Chung kết lại, bí mật thơ Xuân Hương, sự mê hoặc hay khó hiểu, xối trộn lại, khuôn trọn vào chỉ một cái: cấu-trúc-nguồn-nước-ẩn.

Đến Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung, ngay vào đầu, Đỗ Long Vân đã tung ra một nhận định quan trọng, thể hiện viễn kiến phê bình của ông khi cho rằng, nền văn học miền Nam khoảng mười năm đầu, đáng kể nhất là phong trào võ hiệp. Một tia nhìn táo bạo về địa vị tiểu thuyết võ hiệp. Cái điều mà, phải mất vài chục năm sau, giới nghiên cứu văn học nói chung mới nhận trở lại ý nghĩa tiểu thuyết võ hiệp trong đời sống văn học nước nhà. Tiểu thuyết võ hiệp, với vô số tác phẩm, trong đấy, Kim Dung nổi bật lên trong tư cách võ lâm minh chủ của sự viết. Đọc Kim Dung, Đỗ Long Vân bằng chưởng cấu trúc luận đã xuyên qua cái phức tạp, đập tan cái đồ sộ, đa sắc màu của tiểu thuyết, vét hết lớp sóng chữ trùng điệp sang một bên để nhìn thấy cái lõi nền dựng nên tiểu thuyết võ hiệp, cả cổ điển lẫn lối mới, đó là võ học. Cấu trúc của tiểu thuyết võ hiệp chính là võ học.

Với cái nhìn lối mới cấu trúc luận kiểu Đỗ Long Vân về tiểu thuyết võ hiệp, người ta có thể tiến tới định nghĩa tiểu thuyết võ hiệp như là truyện kể về võ học. Tiểu thuyết võ hiệp, do vậy, là hí trường rộng lớn để những tuyệt kỹ võ học chấn động giang hồ như Bắc minh thần công, Nhất dương chỉ, Giáng long thập bát chưởng, Đả cẩu bổng pháp… triển diễn, phiêu lưu. Võ học, vì thế, là “yếu tố của truyện kể”. Các tác phẩm của Kim Dung thường có sự tái lặp lại các tuyệt kỹ võ học, mà chỉ cần nhắc đến tên môn võ ấy thôi là đã có cả một quá khứ hào hùng hiện về. Võ học, do đó, nới rộng văn bản làm thành tình thế liên văn bản cho truyện kể. Giang hồ vốn đang yên lặng, bỗng nhiên tao loạn vì một lối giết người của môn võ bí mật, tưởng thất truyền nay tái xuất giang hồ. Nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp, vì thế, hiện ra như là một lối lấp đầy, làm sân nền cho võ học hiển hiện và khai triển. Bản sắc người anh hùng, do vậy, được võ học đảm bảo. Nói khác đi, võ học kiến tạo bản sắc người anh hùng. Mộ Dung Phục dám gạt bỏ tất cả, trở thành một con người bất cận nhân tình, lạnh lùng tàn bạo, vì chỉ còn biết có mưu đồ mượn võ học phục vụ quyền lợi cá nhân, khôi phục quyền lực dòng họ. Đoàn Dự kiến tạo bản sắc khác, khinh thường tất thảy võ học, chỉ biết đến tình yêu, nên trở thành một kẻ thư sinh phong nhã suốt đời nuôi dưỡng lý tưởng tình yêu và cái đẹp. Võ học, vì thế, như tấm gương chiếu tướng, nhân vật đi qua là hiện nguyên hình. Một câu truyện võ hiệp, thường khi vẫn bắt đầu từ chỗ truy tìm, sở hữu bí kíp võ công xảo diệu, danh chấn giang hồ, hay có khi, chỉ là một thứ binh khí có công lực siêu phàm. Thế cho nên, chỉ vì Đồ Long đao, Ỷ Thiên kiếm mà giang hồ đẫm máu. Ỷ Thiên Đồ Long ký, vì thế, là câu chuyện được cấu trúc trên nền tảng giang hồ chánh tà nhị phái truy tìm Đồ Long đao, tranh giành Ỷ Thiên kiếm. Hoặc như Anh hùng xạ điêu, Cửu âm chân kinh là bí kíp mà xoay quanh nó tấn kịch giang hồ tranh đoạt đồ sộ được tái hiện, và người anh hùng khù khờ Quách Tĩnh được dựng xây lên giữa màn kịch đầy bất trắc và bất ngờ ấy.

Cái nhìn cấu trúc luận về tiểu thuyết võ hiệp là võ học, cấp cho Đỗ Long Vân một đôi mắt phê bình riêng, để từ đấy, bằng một lối độc đáo, nhìn ra chân tướng nghệ thuật, hay sát hơn, cách tân nghệ thuật của Kim Dung. Nếu trong truyện võ hiệp cổ điển, chỉ cần sở hữu một môn võ tuyệt kỹ thì có thể dễ dàng chế ngự anh hào giang hồ, thì võ hiệp Kim Dung không đơn giản thế. Võ học trong Kim Dung không phải là tuyệt đối. Môn võ nào cũng tiềm ẩn những yếu điểm của nó. Võ học, vì thế, không là tất cả. Võ học còn lệ thuộc tình thế sử dụng võ học. Đấy là chất nền gây bất ngờ trong truyện Kim Dung, và là bí mật nghệ thuật mà Kim Dung hấp dẫn người đọc. Lăng ba vi bộ có thể giúp chàng thư sinh Đoàn Dự khuất phục ác nhân, võ nghệ đầy mình Nam hải ngạc thần, nhưng Lăng Ba vi bộ nếu gặp một trận thế hỗn loạn, toàn những kẻ võ công loàng xoàng, đánh không ra chiêu, ra thức thì Lăng ba vi bộ trở nên vô dụng. Hoặc khác, cũng chàng Đoàn Dự, Lục mạch thần kiếm vô địch thiên hạ được triển khai một cách phập phù lúc có lúc không khiến độc giả luôn thót tim mỗi khi Đoàn Dự lâm trận. Tính bất toàn của võ học trong truyện kể Kim Dung đã trở nên yếu tố khớp trục, xoay trái, lật phải, ẩy lên, hạ xuống chuyển vận liên tục để tình tiết truyện kể luôn luôn vận hành, đồng thời biết rẽ ngoặt đúng lúc làm câu truyện không thể đoán định. Một câu truyện tưởng đã sa lầy, cùng khốn, lập tức được cứu vãn khi một môn võ, bí kíp khác lạ đột ngột xuất hiện. Võ học luôn đóng vai trò đòn bẩy, bôi trơn, tạo lực cho cả một tòa cấu trúc truyện kể đi lên phía trước.

Võ học, trong Kim Dung, hơn thế, được chia làm hai thể. Hiển thể của võ học là chiêu thức, ẩn thể của võ học là nội lực. Chiêu thức có tinh vi đến đâu cũng không bằng nội lực. Kiều Phong chỉ đi một bài võ nhập môn của trẻ em là Thái tổ trường quyền cũng đủ khuất phục cao thủ giang hồ ở trận chiến khốc liệt Tụ Hiền Trang. Chính nội lực mới là cái diệu dụng của võ học. Vì nội lực là bản thể của võ học, nên với kẻ tầm thường thì rèn kiếm để dùng, cao thủ hơn dùng diệp kiếm, một cái lá có thể giết người, cao thủ đến cùng tột thì phải là kiếm quang, kiếm khí, kiếm ý. Đông Tà, vì thế, chỉ bằng tiếng đàn, tiếng sáo có thể giết người. Truyện Kim Dung nhìn từ võ học, đã chuyển võ học từ chiêu thức ngoại thân vào tâm ý nội thân. Học võ đại đạo là chế định được tâm ý, sai sử được nội lực. Dụng võ như thế là đi đến cùng tột, chế ngự tâm, đấu nội lực mới mong hùng bá thiên hạ. Hùng bá thiên hạ, do vậy, cũng là hùng bá, chế ngự được chính con người mình. Võ học do đó là võ đạo.

Người anh hùng trong tiểu thuyết võ hiệp cổ điển, từ tạ thầy xuống núi đã là một cao thủ giang hồ, vô địch thiên hạ. Người anh hùng cổ điển hành đạo là dùng võ học để trừ gian, diệt ác, thực thi cái đạo lý duy nhất đúng của mình. Người anh hùng của Kim Dung đến với võ học phần lớn là những tay mơ, kinh lịch giang hồ không có mà võ học thì vài chiêu gà, vịt. Chính trường đời đen bạc dạy người anh hùng của Kim Dung cái đạo lý giang hồ, và sự tình cờ, cơ ngẫu ở đời đưa chàng đến với những võ công tuyệt luân. Từ đấy, tổng thể truyện võ hiệp của Kim Dung là chính con đường trở thành bậc cao thủ phủ trùm uy đức lên bốn biển của người anh hùng. Trên nền kinh nghiệm ở đời mà người hùng trong tiểu thuyết Kim Dung va vấp, ý nghĩa truyện kể lóe sáng. Vô Kỵ trước khi thống nhất chánh tà hai phái thì chàng đã là một thế mâu thuẫn nửa tà nửa chánh. Mẹ là ma đầu khét tiếng, cha thì thuộc chánh phái lẫy lừng, Vô Kỵ là một lưỡng thể tà chánh. Vô Kỵ với một cuộc đời đầy bầm dập đã hiểu ra, tà không hẳn là xấu, chánh không hẳn là đường hoàng. Một Tạ Tốn của ma giáo có khi lại đầy nghĩa tình, một Diệt Tuyệt của chánh phái lại là kẻ giết người không gớm tay, không tình không nghĩa. Chánh tà trong tiểu thuyết cổ điển là thế lưỡng phân tuyệt đối. Tà chánh đối đầu. Người danh môn chánh phái bao giờ cũng là kẻ nắm chân lý. Chánh tà trong Kim Dung khác hẳn, là một thế phức hợp, khi tách rời khi hòa nhập, khó có thể phân biệt. Tà chánh tương giao. Tà chánh đều có lý của mình để tồn tại. Thước đo giá trị con người trong tiểu thuyết Kim Dung, vì thế, không nằm ở môn phái anh thuộc về. Giá trị con người nằm ở một chữ tình. Người anh hùng đúng nghĩa trong Kim Dung bao giờ cũng nặng tình. Chân lý không phải bao giờ cũng thuộc người anh hùng, vì thế, A Châu dịu hiền, Kiều Phong quang minh lỗi lạc mới chịu chết thảm khốc và oan khuất. Nhưng Kiều Phong hay A Châu vẫn sáng lên rực rỡ vì cả hai sống trọn vẹn đầy nghĩa-tình. Mộ Dung lạnh lùng, không cần và không bao giờ có tình yêu thì hóa điên. Vương Ngữ Yên, Đoàn Dự là những kẻ khù khờ, ngây thơ, trong sáng trên giang hồ, chỉ biết mỗi chữ tình thì được tất cả. Cơ cấu, vì thế, là cơ cấu nghĩa tình. Và cơ cấu, vì thế, bao giờ cũng nên thơ. Trên nền cơ cấu, có cả một tòa chi tiết liên tục được tháo gỡ và kiến tạo, làm thành cái phồn sinh, đầy màu sắc ở đời. Đọc Đỗ Long Vân, như vậy, làm chúng ta nhớ V.Ia. Propp. Propp đọc cổ tích, thấy được cổ tích cơ cấu từ 31 chức năng nền tảng. Mọi tình tiết, nhân vật của kho tàng cổ tích thần kỳ, do vậy, chỉ là phần phụ được tháo lắp, đắp đổi trên nền 31 chức năng căn nền ấy. Vậy, diễn giải cơ cấu võ học của họ Đỗ cũng có thể nghĩ đến một hệ chức năng mới, mà từ những chức năng ấy, mọi tiểu thuyết võ học sẽ được kiến tạo. Vấn đề lý thú này, vẫy gọi những nghiên cứu đồ sộ hơn trong tương lai.

Như vậy, siêu vượt mọi cái nhìn trong lối nhìn Đỗ Long Vân, cái nhìn cấu trúc là cái nhìn bản thể, quy định và triển khai mọi lối nhìn. Từ cái nhìn cấu trúc, mọi lớp nghĩa và đặc trưng nghệ thuật văn học được hiện lên rõ nét, từ-một-cấu-trúc-nền.

3.

Sau cùng, đọc Đỗ Long Vân còn là đọc bút pháp phê bình văn học. Trung Niên Thi Sỹ Bùi Giáng lừng lẫy hẳn phải nhìn thấy cốt cách thi ca hơn người trong ngòi bút phê bình Đỗ Long Vân nên mới gọi ông là “nhà thơ ngậm ngùi đi vào biên khảo” (12). Thụy Khuê ở Paris, khi nhắc đến bút pháp đẹp đến tột cùng của người mơ mộng Bachelard, đã liên tưởng ngay đến Đỗ Long Vân (13). Ở miền Nam thời ấy, không ngẫu nhiên, họ Đỗ có khi còn được xưng tụng là “Vô Kỵ của phê bình”.

Đỗ Long Vân, trên cái nền lý tính được dựng lên từ lõi phê bình chặt chẽ (cấu trúc) được khảo cổ từ văn bản, một lối văn uyển chuyển nhưng mạnh mẽ được triển khai. Một lối văn nhiều câu đơn, hình ảnh liên tưởng tuôn trào, từ ngữ gọt giũa và liên tục được làm mới, nên, đẹp khỏe và cường tráng. Cái cường tráng của sự phún trào quanh một nguồn nước ẩn, hay sự cường tráng của lối vần vũ một Long-Vân- rồng-trong-mây.

Đọc một phê bình văn học được nuôi dưỡng bằng thi tính trên nền lý tính kiểu Đỗ Long Vân, người đọc, vì thế, có thêm cái khoái thích của kẻ được dâng hiến bữa tiệc từ ngữ. Thứ từ ngữ được triết học rèn luyện chứ không phải thứ từ ngữ phê bình “làm văn”, thiếu mỹ học phê bình, kiểu phê bình học trò cấp 3 nối dài phổ biến hiện nay, với cái chiêu mọn thuần túy bản năng, trực giác đem cảm thụ văn học.

Đỗ Long Vân, một người sống hướng nội, khép kín, âm thầm, đã kết thúc hiện hữu tài hoa, uyên bác của mình trong một cuộc đời đầy bi kịch. Nếu thi ca đã có lão thi sỹ khùng điên tưng bừng Bùi Giáng thì phê bình văn học có Đỗ Long Vân cũng là một người điên, nhưng là cái điên im lặng đến nhức nhối. Đỗ Long Vân được biết đến là một con người sống thu mình, hiền lành đến nhẫn nhịn, tội nghiệp ở đời. Mà thời ông sống thì quá nhiều sóng gió. Bi kịch gia đình đã khiến Đỗ Long Vân thành kẻ lang thang. Ông sống nhiều năm khoai sắn không đủ bữa cuối đời trong một căn nhà trọ nghèo nàn ở thành phố Hồ Chí Minh. Người ta vẫn gặp ông trong bộ dạng rách rưới, đứng như trời trồng, như mất hồn, cấm khẩu ở các ngã ba đường. Về cuối đời, ông chết đói (14).

Tái diễn giải trở lại Đỗ Long Vân, là tái diễn giải một sự lãng quên quan trọng phê bình văn học cấu trúc luận ở Việt Nam, ở ngay chặng có ý nghĩa nhất, lần đầu tiên tiếp nhận cấu trúc luận vào phê bình văn học, và với đại diện chói sáng nhất – Đỗ Long Vân. Phê bình văn học, vì thế, thường sáng lên như ngọn đuốc soi đường xuyên qua những đại dương hiện hữu gầy mòn. Soi từ Xuân Hương đến Vô Kỵ, qua Đỗ Long Vân để tìm đến giữa di sản phê bình văn học của chúng ta.

N.M.T
(SH281/7-12)




Chú thích:

(1) Xem: Trịnh Nữ, “Phê bình hiện tượng học ở Việt Nam”, Văn nghệ trẻ, H, 52/2011 & 1/2012, hoặc trên: http://triethoc.edu.vn; Nguyễn Mạnh Tiến, Lê Tuyên trong cái nhìn mơ mộng [Hay là phê bình hiện tượng học văn học tại Việt Nam], Hội thảo Nghiên cứu - Phê bình văn học hiện nay, Viện văn học, H, 2012.

(2) Structuralisme được Đỗ Long Vân và các đồng nghiệp của ông ở miền Nam trước đây dịch là Cơ cấu luận, được dịch ở miền Bắc và phổ biến trên cả nước sau 1975 là Cấu trúc luận hoặc Chủ nghĩa cấu trúc.

(3) Đỗ Long Vân: Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương (Trình Bày, S, 1966; Văn học, S, 108/1970); Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung (Trình Bầy, S, 1967) (bản số hóa đã được Talawas thực hiện), các trích dẫn ngoặc kép trong bài không dẫn nguồn đều từ hai tác phẩm này. Ngoài ra, bạn đọc quan tâm, có thể theo dõi thêm các công trình khác của Đỗ Long Vân như: “Thử phác họa một bản đồ của địa ngục theo Chế Lan Viên”, Văn học, S, số 189/1974 (bản rút gọn từ Nghiên cứu văn học, S, 6-7-8/1968); “Thơ trong cõi người ta”, Văn học, S, 99/1969; và…

(4) Xem: Bùi Văn Nam Sơn, Hồi niệm và viễn cảnh (Nhân cuốn “Triết học Kant” của GS. Trần Thái Đỉnh được tái bản lần 3), trong Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Kant, Văn hóa thông tin, H, tr.12.

(5) Vài mốc quan trọng của việc tiếp nhận cấu trúc luận ở miền Nam thời ấy, với: chuyên san Những vấn đề cơ cấu luận (Tư tưởng, S, 1969); Trần Thiện Đạo và loạt bài viết giới thiệu cấu trúc luận trên tạp chí Văn, in lại trong tập Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc (Tri thức, H, 2008); Nguyễn Văn Trung với các bài viết về cấu trúc luận trên Bách Khoa: “Đặt lại vấn đề văn minh với Claude Lévy-Strauss”, “Tìm hiểu cơ cấu luận”, in lại trong tập Nhận định V, Nam Sơn, S, 1969; J.Pouillon, “Thử tìm một định nghĩa cho thuyết cơ cấu” (Trần Thái Đỉnh dịch), Tân Văn, S, 1968; Trần Thái Đĩnh, “Quan niệm cơ cấu trong các khoa học nhân văn”, Bách khoa, S, 126 – 271/1968…

(6) Kim Định (1973), Cơ cấu Việt Nho, Nguồn Sáng, S.

(7) Đại diện lớn của giới nghiên cứu ngôn ngữ miền Nam theo cấu trúc luận gồm: Trần Ngọc Ninh, Cơ cấu Việt ngữ (tập 1), Lửa thiêng, S, 1973 (các tập sau được in ở Hoa Kỳ); Lê Văn Lý, Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm học liệu xb, S, 1972; Phạm Hữu Lai, Ferdinand de saussure và Ngữ học cơ cấu, Ngữ học xb, S, 1974; Phạm Hữu Lai, Dẫn vào lý thuyết ngữ pháp: Nguyên tắc và đơn vị, Tủ sách ngữ học xb, S, 1975. Ở miền Bắc, Cao Xuân Hạo cũng là nhà ngữ học cấu trúc đã để lại rất nhiều công trình quan trọng.

(8) Thật đáng chú ý khi dân tộc học cả hai miền Bắc, Nam Việt Nam bị chia cắt thời bấy giờ, lại có chỗ thống nhất trong việc sử dụng cơ cấu luận vào nghiên cứu dân tộc học, và đã để lại nhiều công trình kinh điển. Ở miền Bắc, Từ Chi nổi tiếng với công trình mẫu mực về cấu trúc luận Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền Bắc Bộ (Etudes Vietnamiennes, H, 61/1980; Khoa học xã hội, H, 1984). Ở miền Nam, nhiều công trình thời danh về dân tộc học cấu trúc luận cũng xuất hiện như Bửu Lịch với Vấn đề thân tộc (Viện khảo cổ, Tổng bộ văn hóa xã hội, H, 1966), Nhân chủng học và lược khảo thân học (Lửa thiêng, H,1971); Trần Đỗ Dũng với Luân-lý và tư-tưởng trong huyền-thoại: một quan-niệm văn-minh mới theo Claude Lévi-Strauss (Trình Bày, S, 1967).

(9) R.Barthes, “Thế nào là phê bình” (Vũ Đình Lưu dịch), Văn học, S, 38/1965; Roland Barthes, “Văn chương nhìn theo cạnh khía một cơ cấu để hoàn thành một chức vụ” (Vũ Đình Lưu dịch), Văn học, S, 40/1965; Trần Thái Đĩnh, “Thuyết cơ cấu và phê bình văn học”, Bách khoa, S, 289 - 294/1969;…

(10) Giáo sư Đỗ Long Vân, người gốc Hà Nội, di cư vào Nam, từng theo học nhiều năm ở Sorbonne vào đúng thời điểm mà cấu trúc luận đang gây thanh thế to lớn trong học giới Pháp. Cùng với Lê Tuyên, Nguyễn Văn Trung, ông là lứa giáo sư văn học danh tiếng một thời được L.m Cao Văn Luận mời về nhằm xây dựng Viện Đại học Huế thời bấy giờ.

(11) Roland Barthes, “L’activité structuraliste”. Les lettres nouvelles, 1963; http://www.structuralisme.fr.

(12) Xem Nguyễn Đạt, Căn nhà trọ của ông Đỗ, nguồn: http://www.tienve.org.

(13) Thụy Khuê, Phê bình văn học thế kỷ XX (Phần 16 & 17: Bachelard & G. Bachelard: Nước và mơ), nguồn: http://thuykhue.free.fr.

(14) Chúng tôi trong giới hạn của mình, chưa tìm thấy tư liệu tin cậy đề cập đến cuộc đời Giáo sư Đỗ Long Vân. Những chi tiết liên quan đến cuộc đời Đỗ Long Vân được sử dụng trong bài viết này, phần lớn chúng tôi biết được thông qua trao đổi với học trò, bạn hữu Đỗ Long Vân là Họa sỹ Nguyễn Hữu Ngô, Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan, Nhà nghiên cứu Bửu Ý ở Huế. Nhân đây, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà nghiên cứu.

http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=3370#more-3370

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

007 "SKYFALL": SỰ SUY TÀN CỦA THẾ GIỚI CŨ

“Skyfall”: Sự suy tàn của thế giới cũ

12/11/2012

Tags: Hà Thủy Nguyên, Skyfall

Hà Thủy Nguyên

Tập phim thứ 23 của Series phim 007 đang gây sốt trên các rạp chiếu phim khắp thế giới thực sự đánh dấu sự suy tàn của một thế giới cũ. Chắc hẳn không phải vô tình mà nhà sản xuất “Skyfall” lại phát hành bộ phim này vào đúng năm 2012 – năm Tận Thế.
Một hệ thống cũ đến thời bất lực
Mở màn cho bộ phim là sự suy yếu liên tiếp không thể kiểm soát của hệ thống nhân vật “chính diện” mang trọng trách bảo vệ trật tự xã hội, chống lại những tên tội phạm điên rồ với tham vọng đạp đổ và thống trị tất cả.
Bắt đầu bằng việc James Bond bị đồng sự bắn trúng rơi xuống ngọn thác và sau đó anh chàng điệp viên ẩn cư với danh nghĩa một kẻ đã chết trong an bình. Rõ ràng, Bond đã thể hiện một sự mệt mỏi với cuộc chiến “chính – tà” theo kiểu kinh điển. Kể cả lúc Bond quay về với MI6 (lúc này đang trong cơn khủng hoảng trầm trọng) thì anh đã mất đi sức mạnh và các kỹ năng của mình: thể lực kém, khả năng ngắm bắn sụt giảm, không chịu nổi áp lực tâm lý… Đặc biệt trong phim không còn những màn phiêu lưu tình ái say mê và khiêu gợi như những phần trước, chỉ còn vài nét điểm xuyết nhợt nhạt. Phải chăng ngọn lửa trong James đang nguội dần theo tuổi tác. Phim nói về tuổi trung niên của James Bond hay còn là sự đi xuống của hình mẫu anh hùng theo kiểu cũ.

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DƯƠNG NHƯ NGUYỆN


https://docs.google.com/file/d/1ImrKAq1YwoiR3jdAQU9G8lmUfFe8YB3Y4fhIek22FsIhsB6ivuCC5k-huaKG/edit


Lời chú thíchcủa Quê Hương. Blog Điểm Nhấn (QH.):


Nhân dịp thế giới bàn cãi giải thưởng Nobel văn chương 2012 , ở khuôn khổ hạn hẹp hơn, thiển nghĩ nên có một cuộc nói chuyện về vấn đề cơ bản: thế nào là phân tích và diễn đạt giá trị văn chương, dùng các tác phẩm viết bởi người Việt. Nhà văn Dương Như Nguyện (DNN), tức luật sư, giáo sư Wendy Duong, là người độc nhất trong cộng đồng người Việt hải ngoại trực tiếp viết song ngữ: Việt và Anh. Năm 1999, Bà làm nghiên cứu hậu tiến sĩ (Post-JD) về phân tích văn chương và luật học tại đại học Harvard (Law and Literature). Cùng năm ấy, Bà đến với cộng đồng người Việt với tập truyện «Mùi Hương Quế » do Văn Nghệ Xuất Bản, gây sôi nổi trong thời điểm đó. Năm 2005, tiểu thuyết tiếng Anh của Bà, « Con Gái của Sông Hương », ra đời. Gần đây, hai cuốn tiểu thuyết kế tiếp, « Mimi and her Mirror và Postcards from Nam », được một công ty truyền thông ở Los Angeles chọn là tiểu thuyết đa văn hóa hay nhất trong số sách thế giới duyệt bởi công ty này cho năm 2012 (International Book Awards).
Bài phỏng vấn này được chia làm hai phần, nói về vấn đề phân loại, bình luận và bình giảng tiểu thuyết. DNN không những chỉ đặt vấn đề vào tiểu thuyết của Bà, mà còn bàn luận về hai tác phẩm từ Việt Nam: Bóng Đè (gây sôi nổi) và Dị Hương (được giải thưởng của VNCHXHCN).

Phần Một


VĂN CHƯƠNG MUA VUI HAY VĂN CHƯƠNG LUẬN ĐỂ ?

Từ Hồ Xuân Hương đến Anais Nin: Ma Ri Sến và Mùi Hương Quế



Hồ Xuân Hương (1772-1822)

Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi…



Anaïs Nin . ( 1903- Jan 14, 1977 Los Angeles, CA)



Được công nhận ở Mỹ là tiểu thuyết văn chương dù với mục đích mua vui.
« …vì nàng quá thông minh, và đàn bà thông minh pha lẫn văn chương, thi phú và tình yêu, đã làm chàng trở thành như bán thân bất toại…
…Tôi tự biết , qua bao nhiêu thế kỷ, chỉ có một loại văn chương này – loại văn chương do đàn ông viết,,,Và vì thế, tôi quyết định xuất bản, làm cái công việc bắt đầu của một phụ nữ trong lãnh thổ đàn ông… »

ANAIS NIN

Phạm Thị Hoài. Tác giả Marie Sến

“Người đàn bà tên là Sến. Sến xưng em với chúng tôi sáu thằng đàn ông. Chắc chắn Sến cũng xưng em với sau trăm ngàn thàng đàn ông ở Hà Nội.

Sáu thằng đàn ông là Đoài, Đủ, Hồng, Thân, Tân và Nguyên.

Đoài, hàng xóm sát vách tôi, gọi Sến là nàng. Là loại người mỗi ngày ba lần đánh răng, khi anh chàng khà từng tràng từng tràng nàng nàng nàng là Sến bay ra từ khoảng trống rộng rãi của âm “a” kéo dài hoan hỉ, đượm mùi hoá chất nội địa, hiệu PS, giữa mười sáu chiếc răng trên và mười sáu chiếc răng dưới. …”

PHẠM THỊ HOÀI


Dương Như Nguyện, thập niên 90 và sự ra đời của MÙI HƯƠNG QUẾ


…Tôi mường tượng tiếng roi đi trong không khí nghe vun vút như tiếng xé lụa trong điển tích Trung Hoa…Giữa nhịp roi, tôi nghe tiếng Thịnh gọi “Mỵ Nương Mỵ Nương…”
Tôi kêu khẽ, “Thịnh ơi,” nhưng tiếng kêu không thóat khỏi thanh quản. Ở đâu đó vang vọng tiếng hát lảnh lót, tiếng hát tôi đã quen từ ngày thơ ấu, “Đêm năm xưa, khi cung đàn gây mơ, hoa lá quên giờ tàn, mây trắng bay tìm đàn, hồn người thổn thức trong phòng loan…” Trong không gian u tối, tôi thấy một điểm sáng di động. Tôi rướn người lên một lần cuối và hình như dây trói bật tung…
Tôi đi theo điểm sáng, đi theo tiếng hát, nương theo LỐI VỀ, NGÕ THOÁT, HAY NGÕ CHẾT. Có tiếng réo gọi mơ hồ, “Mỵ Nương, Mỵ Nương…”

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN

***

Quê Hương (QH): Chào Chị Như-Nguyện. Kỳ phỏng vấn của Báo Ngày Nay Houston năm 2011, Chị nhắc đến phê bình văn học và nghệ thuật tiểu thuyết. Theo Chị, nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam bắt đầu như thế nào ?


Dương Như Nguyện (DNN): Đây là cả vấn đề văn học sử. Tóm tắt rất ngắn: theo tôi, có lẽ một trong những cuốn tiểu thuyết văn chương đầu tiên ở VN là Truyện Kiều của Nguyễn Du, được coi như một bài thơ tiểu thuyết bi hùng tráng, như Ulysses của Homer, nhưng cốt truyện lại lấy của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu.
Nghệ thuật tiểu thuyết tâm lý viết bằng văn xuôi thật sự đến với người Việt chúng ta từ thế giới Tây Phương qua thời Pháp thuộc.

QH: Như vậy, phê bình văn học là gì và liên đới đến vấn đề bình giảng văn chương như thế nào?

DNN: Phê bình văn học gồm hai mặt:
1) Hình thức (thí dụ, cách xử dụng các thuật pháp viết văn: cách tạo dựng nhân vật chẳng hạn);
2) Nội dung (thí dụ, tư tưởng và chiều hướng, triết lý đứng sau nhân vật và cốt truyện).
Phê bình văn học đứng đắn cần phải dựa trên chu trình bình giảng văn chương (literary interpretation). Tây Phương cho chúng ta hai lý thuyết chính về vấn đề này.
1) Thuyết cổ điển cho rằng phê bình gia phải tìm hiểu ngụ ý và mục tiêu của tác giả.

2) Thuyết hiện đại được những cây viết lớn của Tây Phương trong thế kỷ 20 cổ võ. Thí dụ, Roland Barthes cho rằng nhà phê bình cũng là nhà sáng tạo, có quyền đem cái nhìn của mình gán cho thi văn, có khi trái hẳn hay bẻ ngược ngụ ý và mục tiêu của tác giả để áp dụng tác phẩm vào những trạng huống mới, nhằm mục đích cổ võ hay khai phá một hệ thống tư tưởng nào khác không lệ thuộc vào tác giả nữa. Bài bình giảng do đó trở thành một tác phẩm sáng tạo riêng. Khi tiểu thuyết ra đời, tác giả phải «chết đi» và nhà phê bình trở thành nhà sáng tạo.

Hai lý thuyết này cũng đã được đem áp dụng vào luật học, nhất là ở địa hạt luật hiến pháp, đòi hỏi diễn giải về ngôn ngữ.

QH : Xin Chị cho thí dụ về áp dụng thuyết hiện đại.

DNN: Trước cộng đồng người Việt, tôi đã làm hai thí dụ :
1. Thí dụ thứ nhất: Cách đây khoảng 5 năm, tôi áp dụng lý thuyết hiện đại vào việc bình giảng câu thơ cổ: « Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu»Tôi đã bẻ ngược ý nghĩa đầu tiên của câu thơ này, nhằm mục đích xác định lại thế nào là «mỹ nhân» qua cái đẹp của trí tuệ và nhân cách trong xã hội hiện đại. Một độc giả không quen đã nhắc khéo, cho rằng tôi hiểu sai nghĩa đen của câu «người đẹp vẫn thường hay chết yểu» Nghĩa đen này quá rõ không cần phải nói đến nữa.

Thật ra, tôi muốn tách rời người Việt hải ngọai ra khỏi ảnh hưởng của tư tưởng cổ thi đến từ Trung Quốc, khi cần thiết. Câu hỏi chúng ta cần đặt ra là: ngày nay, “mỹ nhân” có nghĩa là gì cho phụ nữ Việt Nam, không cần phải quay về với ý nghĩa đầu tiên của câu thơ chữ Hán.

2. Thí dụ thứ hai: Tại thư viện San Jose, tôi đi xa hẳn nghĩa đen của câu «Truyện Kiều còn, nước ta còn ». Tôi muốn đặt lại câu hỏi: Tại sao người Việt không những tôn sùng Bà Trưng, mà còn tôn sùng truyện Kiều, dù rằng cô Kiều là người Tàu? Nói một cách khác, tại sao Nguyễn Du lại phải lấy hình ảnh của một người kỹ nữ Tàu để diễn tả những ẩn ức của chính mình và tại sao Truyện Kiều trở thành « vưu vật của đất nước » ? Lý do có hoàn toàn nằm ở giá trị ngôn ngữ của truyện Kiều hay không? Tôi nghĩ là không.
Theo tôi, nếu bà Trưng là hình ảnh nữ anh hùng dựng nước (nation-building) được tôn sùng, thì cô Kiều và truyện Kiều tượng trưng cho chỗ đứng của nghệ sĩ sáng tạo (the literary art) trong việc giữ gìn văn hóa Việt Nam. Cả hai đều được tôn sùng trong tâm thức quần chúng. Vì thế, việc cô Kiều không phải là người Việt không còn quan trọng nữa, vì cô Kiều đã trở thành biểu tượng gần gũi của văn chương sáng tạo trong lòng dân tộc Việt.
Trong chiều hướng ấy, nhà phê bình và phân tích văn chương cần phải mang vào việc diễn giải Truyện Kiều những vấn đề của xã hội ngày nay, không nhất thiết phải quay trở về với ngụ ý hay tâm tư của Nguyễn Du khi ông viết Truyện Kiều.

QH: Chị có thể cho thí dụ bằng tác phẩm của Chị: ngụ ý nào là của tác giả và ngụ ý nào là cái nhìn của độc giả Việt Nam đi ra ngoài chủ đích của nhà văn? 

DNN: Như vậy tức là tôi phải nói về tiểu thuyết của mình thay vì phải “chết đi” theo lý thuyết của Barthes.
1. Thí dụ về ngụ ý của tác giả: Tôi ngạc nhiên không có độc giả VN nào nhận ra điểm sau đây: trong cuốn tiểu thuyết “Con Gái Của Sông Hương” xuất bản năm 2005, có 3 chị em: hai có con gái và cậu con trai út, chẳng khác gì …”đầu lòng hai ả tố nga… Một trai con thứ rốt lòng…” Simone, cô con gái đầu lòng, hy sinh mối tình riêng để vội vã kết hôn với một người không quen biết nhằm đem gia đình qua Mỹ, nhưng rồi Simone quay trở về tìm lại cội nguồn. Đây là biểu tượng cho cái giá của kiếp di dân: tâm sự kẻ lưu đày bắt đầu bằng sự hy sinh bản ngã, cái mà tôi gọi là mặc cảm lưu lạc của Thúy Kiều trong tâm thức văn hóa của người Việt lưu vong.
2. Thí dụ về sáng tạo của độc giả: Một vài nhà phê bình VN đã nảy sinh ra những tư tưởng mà tôi chưa hề nghĩ đến. Thí dụ, họ cho rằng tất cả các nhân vật nữ của tôi trong tập truyện «Mùi Hương Quế» đều là hiện thân của một người mà thôi và người đó là tôi. Dưới cách nhìn này, MHQ có thể được xem là một cuốn tiểu thuyết, có một phần tự truyện vì dạng tùy bút được dùng trong tuyển tập. Đây là kết quả sáng tạo của nhà phê bình, ngoài dự tính của tác giả, đúng như Roland Barthes đã nhận xét. Từ lời bình giảng nầy, tôi nẩy sinh ra tư tưởng muốn viết lại cuốn MHQ thành một truyện dài, trong đó nhân vật nữ hóa thân thành nhiều kiếp, qua nhiều đời sống.Và tôi cũng đã nảy sinh ra ý nghĩ viết hồi ký – tự truyện.

QH: Xin Chị nói thêm về “Mùi Hương Quế”(MHQ). Thành hình như thế nào và có tác động gì trên độc giả Việt Nam?

DNN: Năm 40 tuổi, tôi từ Á Châu quay về Mỹ và quyết định «về hưu sớm» lần thứ nhất để viết tiểu thuyết. (Hiện giờ, tôi đang «về hưu sớm» lần thứ hai.) Tôi đưa tập truyện tiếng Việt cho cha mẹ tôi xem.Cha tôi là người biến tập truyện thành sách và làm việc trực tiếp với nhà xuất bản Văn Nghệ. MHQ là một tác phẩm tiếng Việt chỉ có người Việt đọc, dù rằng đa số các truyện trong MHQ tôi đều viết bằng song ngữ.
Tôi chưa bao giờ đứng ra tổ chức giới thiệu sách hay ký sách cho cuốn MHQ, vì tôi hoàn toàn không có ý định trở thành nhà văn cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Thí dụ: lúc đó cha tôi muốn tôi xin lời giới thiệu của Bác Doãn Quốc Sỹ. Tôi cũng không muốn nhọc công Bác. Tuy nhiên, có một vài nhà văn Việt Nam đã tự ý viết hoặc nhắc về MHQ, trong đó có Lê Thị Huệ, Nguyễn Xuân Hoàng và Đoàn Nhã Văn. Nguyễn Mạnh Trinh có yêu cầu một cuộc phỏng vấn viết tay rất dài, nhưng trong thời điểm đó, tôi không thể tham dự.
Từ đó đến giờ, đã có người lấy truyện ngắn từ MHQ đem đọc trên radio hay ghi âm vào băng cho cộng đồng hải ngoại, và cũng có người cũng đã lấy truyện từ MHQ đem in lại và xuất bản ở Việt Nam. Họ không hề báo cho tôi biết trước hay yêu cầu tôi chấp thuận.
MHQ tạo tiếng vang qua hai tùy bút ngắn :
1) Tùy bút «Mùi Hương Quế » được dựa trên kinh nghiệm lần đầu tiên tôi cãi trước tòa ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, trong một vụ án liên quan đến thị trường chứng khoán;
2) Tùy bút «Những Cổ Quan Tài của Tĩnh Tâm» dựa trên hình ảnh bà ngoại tôi, một phụ nữ xứ Huế.
Một số độc giả cho rằng hai tùy bút nầy nói lên tâm thức hướng về phương Đông. Các độc giả phái nữ của MHQ thường yêu thích truyện ngắn «Tình Yêu Giữa Hai Dòng» nói về hôn nhân và tình yêu dị chủng.
MHQ trở thành sôi nổi vì hai truyện ngắn khác, nói về phụ nữ trí thức di dân theo đuổi nghệ thuật: một người là diễn viên sân khấu và một người muốn làm vũ công. Truyện ngắn «Mỵ Nương» có sự căng thẳng tâm lý của nạn nhân một thảm trạng gia đình trong giới «quý tộc» của VNCH. Ở Mỹ, Mỵ Nương chọn lựa một cuộc tình có bạo lực với một người đàn ông Bắc Mỹ; thời thơ ấu ở Việt Nam, cô ta là nạn nhân của bạo hành vì cha cô – một chính khách của VNCH -- đánh đập cả 2 mẹ con. Trong «Mùa mưa Singapore » Kha Trâm là nạn nhân của một cuộc hãm hiếp, mà thủ phạm chính là tình nhân cũ, một người đàn ông Âu Châu trong cuộc tình tạm bợ. Cả hai truyện ngắn này đều được trích từ hai truyện dài tôi viết dở dang bằng tiếng Anh, vẫn còn để đó, chưa viết xong cho nên chưa xuất bản (và có thể không bao giờ xuất bản) trong dòng chính. Mỗi bản thảo khoảng trên 200 trang.Tình dục không phải là trọng tâm của bản thảo.
Tôi quyết định trích và viết lại hai truyện này thành tiếng Việt sau khi đọc cuốn « Mari-Sến » của Phạm Thị Hoài, do Lê Thị Huệ gửi. Tôi thấy bà Hoài viết quá trắng trợn và chua chát làm mất đi cái đẹp của thế giới tâm linh người nữ. Mari Sến tượng trưng cho cái gì không đẹp và tôi nghĩ rằng đây là chủ trương của bà Hoài. Rõ ràng bà Hoài là một trí thức được đào tạo bởi xã hội chủ nghĩa và phản kháng lại chính cái đã tạo ra mình. Vì thế, tôi quyết định sẽ đưa ra một thí dụ tương phản: tôi sẽ mô tả một chút liên hệ chăn gối của phụ nữ đẹp, một cách gợi cảm mà vẫn giữ được ý nghĩa luận đề của những gì tôi muốn vạch trần hay cổ võ – thí dụ, tôi dùng tâm tư của phụ nữ để nói lên những nhược điểm của một số đàn ông: bản tính chiếm đoạt, hiếu chiến và lòng tự ái, nhưng thật ra họ rất yếu đuối và dễ vỡ vì bản chất sự chiếm đọat của nam phái thiếu tính bền bỉ; đồng thời tôi muốn nói lên một số thảm kịch đuợc dấu diếm tiêu biểu cho sự giả dối của xã hội Châu Á chịu ảnh hưởng Nho Giáo, trong đó có Singapore và Việt Nam (trong trường hợp Việt Nam, có thêm những biểu tượng về việc Saigon sụp đổ và chỗ đứng của lãnh đạo hay trí thức; trong trường hợp Singapore: quốc gia nhỏ bé ấy tượng trưng cho sự thành công của tính tổng hợp các sắc dân ở Châu Á mà lại nằm trong cơ chế độc đảng).
Trước khi đưa truyện ngắn «Singapore» cho báo Thế Kỷ 21 đăng, tôi viết một lá thư cho chủ bút Phạm Phú Minh (aka Phạm Xuân Đài) và giải thích lý do vì sao tôi muốn gửi đăng truyện này. Bà PhạmThị Hoài và tác phẩm Mari Sến chính là nguyên nhân tôi muốn đưa một vài mô tả gợi cãm liên quan đến tình dục vào môi trường Việt ngữ để diễn giải luận đề qua dạng tiểu thuyết – Mỵ Nương và Kha Trâm tương phản với Mari Sến. Tôi chỉ muốn «điểm nhấn» này thôi và một số độc giả Việt Nam (kể cả thân sinh ra tôi) cũng cho rằng «điểm nhấn» này là tiếng nói của nữ quyền cho phụ nữ Việt.
Lúc đó, tôi vẫn không hề có dự định viết văn cho cộng đồng hải ngoại.
Trong MHQ, song song và tương phản với 2 truyện ngắn «xé rào» này là một truyện vừa (novella), mô tả chuyến du hành của một phụ nữ Việt di dân, đi tìm nơi sinh của Phật. Ở đọan kết, nhân vật chính mất tích trên sườn núi của Chùa Khỉ tại Nepal. Một số độc giả thích truyện này vì tôi đi vào thế giới của Phật Giáo.
Nhiều độc giả Việt Nam cho rằng tôi đã qua táo bạo và xé rách hàng rào luân lý Việt Nam vì hai nhân vật «Mỵ Nương» và «Kha Trâm» Thời điểm ra đời của MHQ là 1999; trước đó không có những mô tả về liên hệ chăn gối giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông da trắng trong khu vườn văn chương Việt của phụ nữ Việt, cho dù nhân vật của tôi là nạn nhân của 2 hình thức bạo hành khó nói nhất (domestic violence; date rape). Sau khi MHQ ra đời thì ở hải ngoại, hình như có «mode» phụ nữ Việt nam viết rất bạo về tình dục.Tôi không có gì thích thú trước tình trạng này và đã nhấn mạnh điểm này với chủ bút Phạm Phú Minh.
Nhìn lại vấn đề gây sôi nổi của MHQ, tôi rất ngạc nhiên vì 2 dữ kiện:
1) Cha mẹ tôi, học giả và giáo sư Việt Nam sinh ra trong thập niên 1930, đưa MHQ vào cộng đồng hải ngoại mà không hề lo lắng về hai truyện ngắn « xé rào » viết bởi con gái mình. Cha tôi, người đọc bản thảo và sửa bản kẽm, là một học giả thuần túy và cũng là một họa sĩ tài tử. Ông có sự thuần nhất của bản chất nghệ sĩ, không câu nệ những gì nhỏ nhặt mà chỉ nhìn vào giá trị tổng quát mà thôi.
2) Khoảng 5 năm sau, ông Thế Uyên, thuộc đại gia đình Nguyễn Tường Tam, đã liệt kê MHQ vào danh sách tiểu thuyết tình dục viết bởi phái nữ, mà không nhắc đến tính chất luận đề của tiểu thuyết, cũng như biểu tượng của các nhân vật hay trạng huống trong MHQ -- hoàn cảnh và tâm tư của phụ nữ di dân.
Tôi xin xác định: MHQ là tác phẩm luận đề, không phải là tiểu thuyết tình dục (tiếng Mỹ gọi là «literary erotica», như một số tiểu thuyết của Anais Nin, nữ văn sĩ đầu tiên viết tình dục của Mỹ -- Anais Nin sống ở Paris và là người tình của Henry Miller, tác giả cuốn “Tropic of Cancer”. Bà Nin cũng là một phụ nữ thiểu số: gốc Cuba mang quốc tịch Pháp, và đã phải học Anh Ngữ trước khi viết.)

QH: Dùng văn chương của Anais Nin làm tiêu chuẩn, thì theo Chị, thế nào là một tiểu thuyết tình dục, cái mà người Mỹ gọi là «literary erotica»? Thơ Hồ Xuân Hương, theo Chị, Cô là ‘erotica’ hay không?


DNN: «Literary erotica » là những tiểu thuyết viết để mua vui, nhằm mục đích giải trí cho độc giả về phương diện tính dục, hoàn toàn không có luận đề gì cả. Tuy nhiên, vì tác giả viết rất hay, có cái đẹp thẩm mỹ và văn chương có giá trị như một tiểu thuyết đúng nghĩa, nhiều khi chuyên chở tâm lý vào tư tưởng nữa, thành ra các nhà phê bình cho đó là văn chương ý nghĩa chữ «literary» trong cụm từ «literary erotica»: không phải là ngôn ngữ ô uế rẻ tiền, kiểu «lá cải» hay «khiêu dâm tục tĩu» (danh từ luật pháp là «obscenity» hay «pornography»).
Trong lịch sử văn chương thế giới, rất nhiều tiểu thuyết luận đề đã bị xếp loại là «tiểu thuyết tình dục» hay khiêu dâm, trong đó có cả tác phẩm của đại văn hào Tolstoy và nhà văn di dân Nga, Nabokov, vì các tác phẩm nầy diễn tả khát vọng cảm giác (dịch chữ «sensuality») của nhân vật dưới một hình thức nào đó, bị coi là đi ra ngoài hàng rào luân lý xã hội thời đó.
Tôi chưa hề viết hay cho xuất bản “literary erotica” bao giờ cả. Vì MHQ, một cô giáo của tôi ở trường trung học cũ so sánh tôi với Hồ Xuân Hương trong khi tôi chưa bao giờ thích thơ hai nghĩa (double entendre) của HXH. Tôi thích thơ cổ điển, trang nhã và u hoài của bà Huyện Thanh Quan hơn.
Tôi không nghĩ rằng văn chương của HXH là «literary erotica» vì tất cả các bài thơ của bà đều có luận đề quá rõ ràng và hiển nhiên - chủ đích của bà không phải là làm thơ để tạo cảm giác «mua vui» cho độc giả. Theo tôi, những bài thơ không có luận đề bị đem gắn vào tên bà thường không mang «thi phong» của HXH. Nói về HXH, tôi chỉ thích và thán phục những câu thơ nổi lên chí khí cao của bà (thí dụ dưới đây -- theo tôi, HXH nói về chính mình chứ không phải nói về Ông Phủ Vĩnh Tường):

Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi…

Nữ văn sĩ Anais Nin, ngược lại, cố tình viết tiểu thuyết tính dục để kiếm tiền. Hình như bà ta được trả mỗi trang 1 đồng đô-la Mỹ, khoảng đầu thế kỷ 20.Văn của Anais Nin rất đẹp, tuy rằng viết để mua vui cho độc giả đàn ông. Tác phẩm khiêu dâm của Tây Phuơng viết dưới thời nữ hoàng Victoria đa số là «ẩn danh.» Trước Anais Nin, văn chương tình dục là môi trường hoàn toàn được thống trị bởi nam giới, thiếu hẳn cái nhìn của phụ nữ. Vì thế, có nhiều người cho rằng Anais Nin là chiến sĩ cách mạng của phụ nữ khi bà tham gia vào cái «club» đàn ông chuyên viết tiểu thuyết tình dục. Tuy nhiên, nét thẩm mỹ trong văn của Anais Nin đã cho bà một chỗ đứng cao trong văn chương Anh Mỹ.

QH : Chị nói rằng không có ý định trở thành nhà văn cho cộng đồng hải ngoại. Như vậy thì tại sao có những tác phẩm tiếng Việt xuất bản sau “Mùi Hương Quế” ?


DNN: Tôi chủ trương không ra mắt sách cho cộng đồng người Việt để có dịp bán sách cho đồng hương. Chủ trương nầy đồng nhất với quyết định nghề nghiệp: từ năm 1984, tôi chưa hề muốn mở văn phòng Luật để kiếm sống trong cộng đồng người Việt hải ngoại. (Nếu ngày nào tôi mở văn phòng luật, đó là ngày tôi muốn phục vụ, nhất là các vụ án kỳ thị chủng tộc, vi phạm nhân quyền, hay các vụ án lien quan đến tri thức và chuyên gia gốc Việt.)
Vì thế, tôi chỉ đi ký sách theo lời mời một vài cộng đồng địa phương; thí dụ: cộng đồng Phuợng Vĩ của trường Đồng Khánh Huế (vì mẹ tôi), cộng đồng cựu nữ sinh Trung Vương ở Washington, D.C. cho cuốn “Postcards from Nam”, và những buổi đọc sách (literary reading) theo lời mời của một số đại học và thư viện trong dòng chính.
Năm 2005, tôi nhận được cú điện thoại của chị Nguyễn Thị Minh Ngọc, đạo diễn và nhà văn ở Việt Nam, nói chuyện dựng kịch cho cuốn MHQ. Tôi hiểu đó là sân khấu ở Việt Nam. Tôi suy nghĩ rồi quyết định không thể được. Tôi viết email cho chị Ngọc, và nói rằng “Chữ Trinh còn một chút nầy, Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan !…» Lý do: tôi không muốn trở về Việt Nam để tạo tiếng tăm và chỗ đứng cho tác phẩm của mình. Nếu tôi có dịp phục vụ cho đồng bào trong hay ngoài nước trong khả năng của mình, tôi sẽ không từ nan, nhưng nhờ vả vào khối người Việt nhất là trong nước để tạo tiếng tăm và chỗ đứng thì không. Sự đồng nhất trong quyết định nghề nghiệp và tâm tư cho chính mình, đối với tôi, giống như chữ «trinh» của cô Kiều - đó là tính nhất quán của tâm tư Kẻ Sĩ (mà nghệ sĩ cũng cần phải giữ), cho dù tôi không dám nhận mình là Kẻ Sĩ. (Thí dụ: với riêng tôi, Nguyễn Trãi xứng đáng là Kẻ Sĩ và tôi không giới hạn nghĩa nầy vào Khổng Học; trái lại tôi nói rộng chữ nầy với ý nghĩa của từ «Noblesse Oblige» trong tiếng Anh và Pháp.)
Chính vì cú điện thoại của chị Minh Ngọc mà tôi quyết định cho ra đời tập truyện «Chín Chữ của Nàng » để khẳng định tâm tư của tôi, bằng tiếng Việt, cho người Việt. Tâm thức quay về với nguồn cội, đối với tôi, phải là một sự cho đi (giving), một cố gắng thôi thúc bởi «Noblesse Oblige,» không thể là việc «nhận lấy» (taking) từ đám đông vì quyền lợi cá nhân.
Sau «Chín Chữ Của Nàng» là bản dịch cuốn “Sông Hương”. Đây là món quà tôi tặng cho mẹ tôi vì bà không đọc được tiếng Anh mà không cần từ điển. Cuốn “Bưu Thiếp của Nam” có mặt cho cộng đồng người Việt vì Giáo Sư Đoàn Khoách Thanh Tâm của trường Đồng Khánh Huế cũ, có nhã ý muốn dịch cuốn sách nhỏ này để tưởng nhớ những thuyền nhân đã bỏ mình trên mặt biển, trong đó có một số cô giáo và bạn cùng lớp của tôi thời trung học ở Việt Nam. Tôi cho đó là bổn phận, hành động cho đi.(Tiền bán sách dĩ nhiên phải có để đền bù phí tổn và công trình in sách của nhà xuất bản Văn Mới.)
Cuốn “Mimi and her Mirror” không có mặt trong cộng đồng người Việt qua bản dịch tiếng Việt.Độc giả thích hợp với nội dung của Mimi sẽ tìm đến Mimi mà thôi.

(XEM TIẾP PHẦN HAI: “LỊCH SỬ, SỰ THẬT, HAY TIỂU THUYẾT? SÔNG HƯƠNG, DỊ HƯƠNG, VÀ BÓNG ĐÈ”)

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

TỪ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG ĐẾN MAI THÁI LĨNH

Tưởng Năng Tiến

Người đứng đầu các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đoàn thể quần chúng…phải là người có tài, có đức, được quần chúng tín nhiệm, không phân biệt là đảng viên hay người ngoài đảng. Từ nay trở đi, để có thể giữ những chức vụ trong bộ máy quản lý nhà nước, bộ máy quản lý kinh tế, các đoàn thể quần chúng, đảng viên không còn “đặc quyền” gì mà phải “thi đua” với quần chúng.
(Mai Thái Lĩnh)
Ðó là ý kiến đóng góp để xây dựng đảng cộng sản Việt Nam của một nghị viên Hội Ðồng Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, ông Mai Thái Lĩnh, được phát biểu vào năm 1988. Ở thời điểm này, dù là đảng Cộng Sản Việt Nam đang hô hào đổi mới và chủ trương cởi trói, ý kiến hoàn toàn không có gì là mới lạ và độc đáo vừa nêu cũng đã khiến cho nhiều đồng chí lãnh đạo rất phiền lòng!
Trước đó 32 năm, trong một bài tham luận đọc trước phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc vào ngày 30 tháng 10 năm 56, một trí thức Việt Nam khác, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, cũng đã “góp ý” tương tự với đảng- bằng cách nói ví von và diễu cợt hơn:
“Trong 10 năm qua ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ ‘lập trường’ làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu dùng một hình ảnh duy tâm, tôi ví lập trường như cái oan hồn theo đuổi ngày đêm kẻ nào đã hãm hại chủ nó…”
“Dầu sao ở Việt Nam chúng ta đã xẩy ra những việc như sau đây, ta cần ghi lại để con cháu ta cuời muôn thưở: Khi chọn một nguời lái xe ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi:”có lập trường không?” Kết quả là :từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà-nội, hàng trăm tai nạn xẩy ra, do những nguời vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là:”bệnh nhân thành phần giai cấp nào ?”

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

THÊM MỘT CUỘC ĐỌ SỨC

Tưởng năng Tiến


Hôm 24 tháng 5 vừa qua, tôi có đọc trên trang pro&contra một đoạn văn ngắn – hơi buồn – của nhà văn Phạm Thị Hoài viết cho (và viết về “cuộc đọ sức” của) Người Buôn Gió, cùng những người đồng cảnh:

“Đó là một cuộc đọ sức giữa hai đối thủ hoàn toàn không cân xứng: bên này là một nhà nước đầy quyền lực, sức mạnh và sẵn sàng nghiền nát bất kể ai và bất kể điều gì nó không ưng ý; bên kia là một con người bình thường, một cá nhân vô danh nhỏ bé.

Cuộc đọ sức không diễn ra ở lĩnh vực thường được gọi là chính trị. Bạn, cá nhân nhỏ bé kia chưa bao giờ là một nhà chính trị, lại càng không là một kẻ âm mưu, một kẻ chống phá nhà nước. Suốt cuộc đọ sức, bạn ở vị trí phòng thủ, không muốn gì hơn là được giữ những gì mà bạn coi là tính cách của mình, cuộc đời của mình và danh dự cá nhân của mình, dù hay hay dở.

Những thứ ấy đều bị nhà nước thường xuyên xâm phạm, bằng những phương tiện thừa thô thiển và lố bịch, nhưng không bao giờ thiếu dã man. Trấn áp và đe dọa, để buộc bạn phải từ bỏ bạn bè cùng chí hướng, phải gột rửa quan điểm riêng để tiếp thu những quan điểm theo chỉ đạo, phải xưng hô không như bạn thuận miệng, phải sinh hoạt trái với sở thích, phải dành thời gian cho những hoạt động mà bạn ghê tởm, phải tham gia những phong trào mà bạn dị ứng, phải học tập những tấm gương mà bạn chán ghét, phải tuân thủ những quy định mà bạn thấy phi lí, phải tán thành những điều mà bạn cho là ngu xuẩn… Và nhất là phải đầy biết ơn và hân hoan khi được nhà nước cho phép làm tất cả những điều phải làm đó.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

ĐẰNG SAU BI KỊCH CHỐN QUAN TRƯỜNG


Tác giả: Tương Lai

Kỷ niệm 570 năm ngày người trí thức số một của dân tộc chịu cảnh tru di là một dịp để làm sống động lại một bi kịch lịch sử. Thế nhưng, lịch sử thì thiếu gì bi kịch, hà cớ gì lại nhắc đến bi kịch Nguyễn Trãi vào lúc này?
Phải chăng vì chưa lúc nào tư tưởng và nhân cách của Nguyễn Trãi lại có ý nghĩa thời sự và cập nhật với thế cuộc như hôm nay.
Lý do thì nhiều, song có lẽ bức xúc và sống động nhất lại là vấn đề nhân cách và thân phận người được mệnh danh là trí thức đang được kiểm nghiệm gay gắt trong bối cảnh khi mà "một bộ phận không nhỏ" những người tự khoác cho mình cái danh xưng người "tiền phong" lại đang thoái hóa biến chất gây tai tiếng nghiêm trọng mà "trăm đôi mắt đều nhìn vào, trăm ngón tay đều chỉ vào [Phạm Văn Đồng].
Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa gắn liền với an dân, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp của ông: "Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu". Cho nên ông đòi hỏi "phép nước phải thuận lòng dân, không lấy điều muốn của một người mà cưỡng ép nghìn muôn người phải theo". Là một kẻ sĩ đích thực, ông "coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ", cho dù " Ðã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay đường lợi cực quanh co" vẫn cứ dấn thân để thực thi sứ mệnh của người trí thức: "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược, Có nhân, có trí, có anh hùng".*

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

SỨC MẠNH CỦA DỊCH THUẬT


Giáp Văn Dương

“Tri thức là sức mạnh”. Tri thức là nền tảng phát triển của xã hội. Nhận định này từ lâu đã được thừa nhận như một chân lý.
Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, việc hiện đại hóa nước Nhật đã được bắt đầu bởi việc biên dịch các sách khoa học và triết học phương Tây ra tiếng Nhật, khởi đi từ nửa sau thế kỷ XVII và kéo dài từ đó đến nay. Nếu không có cuộc dịch thuật này, nước Nhật đã không thể hiện đại hóa thành công và phát triển thành cường quốc được cả thế giới ngưỡng mộ.
Các cuốn sách được biên dịch này đã có ảnh hưởng to lớn đến đời sống từng người dân Nhật Bản, và giữ vai trò quyết định đến sự thành công của đất nước này. Chính nhờ luồng tri thức mới có được qua việc dịch sách, nước Nhật đã xây dựng được một nền văn hóa mới mang đậm tinh thần khai minh, đặt cơ sở trên khoa học và sức mạnh của lý trí, sự khai phóng về tư tưởng, và sức sáng tạo của cá nhân; tạo ra hạ tầng tri thức vững chắc cho các ngành sản xuất, kỹ nghệ, kinh tế, văn hóa, giáo dục…, cũng như hình thành nên các cách thức tổ chức và vận hành xã hội mới, tiến bộ. Vì thế có thể nói, nếu không có cuộc dịch thuật của giới trí thức Nhật Bản trong trong hơn ba thế kỷ vừa qua thì nước Nhật đã không thể phát triển được như ngày nay.
Gần đây hơn, Hàn Quốc đã noi gương Nhật Bản trong việc đưa tri thức thế giới về nước để tạo tiền đề cho sự phát triển. Ngoài việc chiêu mộ nhân tài thì một trong số các việc quan trọng mà người Hàn Quốc thực hiện là biên dịch các sách khoa học, triết học và kỹ thuật tiên tiến nhất ra tiếng Hàn. Sự thành công của Hàn Quốc ngày nay chắc hẳn phải có sự đóng góp to lớn của việc dịch thuật này.

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

NGHĨA MUỘI TẠ PHONG TẦN


“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”


Tạ Phong Tần

Quãng đời ấu thơ của tôi buồn bã, và trơ trọi. Anh kế tôi, Tưởng Đăng Trình, qua đời lúc mới vừa lên chín. Tôi được sinh ra – có lẽ – chỉ để bù đắp (phần nào) cho sự mất mát quá lớn lao, và bất ngờ đã đến với bố mẹ mình.
Và vì thế giữa tôi và người chị kế là khoảng cách khá xa về thời gian, cũng như tình cảm. Chị hơn tôi đến gần mười tuổi. Chúng tôi, tất nhiên, không có thú vui nào có thể chia sẻ với nhau. Chị lớn của tôi thì lấy chồng rất sớm, và ở rất xa. Cả ngày tôi đành chơi lủi thủi mỗi mình, giữa đồi núi bao la và hoang dại, ở Tây Nguyên. Quanh tôi chả có ai ngoài hoa bướm, chim chóc, và sóc chồn.
Sự đơn độc này, xem chừng, đã ảnh hưởng không ít đến đời sống của tôi mãi mãi về sau. Như để bù đắp vào sự thiếu thốn của những ngày thơ ấu, trên đường đời, tôi hay kết nghĩa anh em với những người mà mình qúi mến.

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN: THỬ BÀN VỀ VIỆC NHẬN ĐỊNH GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT TRONG THI CA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI


Từ thi ca hoài cổ đến sự ra đời của rừng cây mới:
Bắt đầu bằng một sự gợi ý: Từ Guy de Maupassant cho đến Thạch Lam – Sự rung động trong lòng người đọc văn chương sáng tác

Ngay từ thuở còn bé, tôi đã xúc động khi đọc truyện ngắn của Guy De Maupassant (“GDM”). Câu chuyện đầu tiên tôi đọc là truyện một người phụ nữ mơ mộng, lấy chồng nghèo phải đi mượn một xâu chuỗi kim cương để dự một dạ hội của giới thượng lưu. Xâu chuỗi ấy đã làm thay đổi cả đời nàng. Trả cái giá thượng lưu.
Từ đó, cho đến khi khôn lớn, tôi tìm đọc tác phẩm của GDM, và không bao giờ thất vọng. Trong kho tàng văn chương thế giới, ông được coi là “ông hoàng của truyện ngắn” (King of Short Stories).
Nhà văn Hoa Kỳ Edgar Alan Poe rất thán phục GDM. Đối với tôi, từng truyện ngắn lãng mạn của GDM, ngay cả những truyện siêu thực có tính chất ma quái, vẫn là từng bài thơ xuôi rộng lớn về cuộc đời và tâm hồn con người, mà những chuỗi ngọc về sự mô tả tình tiết và tâm trạng.