Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

PHÉP LẠ VIỆT NAM ĐÃ HẾT




Fri, 07/13/2012 - 00:35

Geoffrey Cain/Foreign Policy

http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/07/11/the_end_of_the_vietnamese_miracle?page=0,0%3Cbr%20/%3E

Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

Ở nơi từng một thời là một trong những thị trường mơi nổi thú vị nhất của châu Á, Nguyễn Văn Nguyên chỉ thấy trước mặt một màu u ám. Từ năm 2008, việc kinh doanh của ông tại thủ đô kinh tế của miền Nam Việt Nam đã trải qua hai cơn biến động của nạn lạm phát, đạt đỉnh cao nhất của Á Châu trong tháng 8 năm 2011 ở mức 23% .


Hiện ông chỉ nhận các đơn đặt hàng nhỏ ở nước ngoài cho Bình Minh, một nhà máy sản xuất mành tre lá từng một thời phát triển mạnh của mình ở thành phố Hồ Chí Minh, để đưọc an toàn trước biến động giá cả. Ông cho biết là các khách hàng ở Úc, Châu Âu, và Hoa Kỳ đã giảm đơn đặt hàng của họ sau khi nhu cầu trên toàn cầu suy yếu. Chi phí sản xuất toàn ngành công nghiệp đã tăng khoảng 30% trong khi khách hàng chỉ sẵn sàng trả khoảng 10%, ông Đặng Quốc Hùng, phó chủ tịch của Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Công nghiệp gỗ thành phố Hồ Chí Minh cho biết. Nguyễn đang phải thuê ít công nhân hơn cho mùa hè cao điểm và cắt giảm mức lương của họ khoảng 120 USD một tháng từ 200USD. "Chúng tôi chỉ có thể làm việc chậm lại, và các thứ hiện nay đều khó khăn", ông than thở vào cuối tháng Sáu.
Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thích các nhà đầu tư nhìn trường hợp như Nguyễn chỉ đơn giản là một trong những ảnh hưởng hy hữu ở địa phương của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu chứ không phải là một suy yếu của hệ thống. Trong hai thập kỷ kể từ khi Đảng Cộng sản hình thành các cải cách kinh tế vào năm 1986, tăng trưởng GDP hàng năm trung bình ở mức đáng nể 7.1%. Thật vậy, cách đây bốn năm, Việt Nam có vẻ như một câu chuyện thành công tiếp theo của châu Á.
Trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, các nhà lãnh đạo của đất nước này cam kết sẽ làm tốt hơn, đẩy nhanh hơn một cuộc tái cơ cấu và tư nhân hóa rộng lớn các doanh nghiệp nhà nước lãng phí của họ , một quá trình mà họ gọi bằng tên hoa mỹ là "cổ phần hóa." Trong năm 2007 Quỹ tiền tệ quốc tế đã tiên đoán rằng các hàng nhập khẩu rẻ hơn do kết quả của việc gia nhập WTO có thể kiềm chế lạm phát, và các cải cách cơ cấu có thể mang lại một sân chơi giữa các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước. Tuy nhiên, tại chuyến thăm của Hillary Clinton đến thủ đô Hà Nội hồi đầu tuần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã buộc phải vào thế chống đỡ, hứa hẹn những điều kiện thuận lợi ưu dãi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài khi ông cố gắng để giữ cho "phép lạ Việt Nam" còn sống.
Trong thập kỷ qua, các chi phí lao động gia tăng ở Trung Quốc có nghĩa là cái thời mà họ là các hãng xưởng của thế giới đã không còn bao lâu nữa. Một nước Việt Nam ổn định, với lực lượng lao động trẻ, rẻ , và cơ sở hạ tầng phục vụ được của mình có vẻ như sự lựa chọn hợp lý tiếp theo. Đầu tư nước ngoài đổ vào trong suốt giữa những năm 2000, với dòng vốn ròng hơn gấp ba lần đến 6.9 tỉ trong năm 2008 so với hai năm trước đó. Việt Nam là "con hổ kế tiếp của châu Á đang hình thành" Goldman Sachs tuyên bố. "Các nhà đầu tư nước ngoài đã không quan tâm đến chính sách hoặc chính phủ. Họ được thúc đẩy bởi chi phí lao động thấp", ông Edmund Malesky, một nhà kinh tế chính trị tại Đại học California tại San Diego, người chú tâm đến thị trường Việt Nam cho biết.
Kết quả là hóa ra, không lưu tấm đến khía cạnh chính trị là một tầm nhìn tốn kém. Một số nhà kinh doanh đã dự đoán Việt Nam năm 2012: một quốc gia vất vả với đồng tiền yếu, lạm phát, quan liêu, và chủ nghĩa đồng chí đồng đội (cronyism) đã dẫn đến hàng tỷ đô la lãng phí - trở thành cái nôi cho một chính phủ chuyên đưa ra những quyết định như xây dựng cổng cảng, đường xá kỳ quặc chẳng phục vụ được bao nhiêu về giá trị kinh tế.
Các thứ đã bắt đầu trở nên xấu đi khi Việt Nam bắt tay vào một cuộc mở rộng 100 tỷ USD cổ phần tín dụng ở trong nước từ 2007đến 2010, một chương trình bị thúc dục bởi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Thay vì được hướng đến các doanh nghiệp tư nhân, chính phủ lại chuyển tài trợ vào các doanh nghiệp quốc doanh có nối kết về chính trị, các tổ chức đã sử dụng quỹ này để nhiệt tình mở rộng ra các khu vực ngoài chuyên môn của mình, tạo ra một nhu cầu gia tăng cho các nguồn tài nguyên nuôi dưỡng nạn lạm phát. Với đầy tiền mặt, họ đã có thể loại trừ các đối thủ cạnh tranh có hiệu quả nhưng nhỏ hơn. Công ty Quốc doanh đóng tàu Vinashin, sử dụng khoảng 60.000 công nhân, giám sát 28 nhà máy đóng tàu, đa dạng hóa với gần 300 đơn vị, bao gồm cả sản xuất xe máy và khách sạn, sau khi tạo thêm được 1 tỷ USD từ các nhà đầu tư quốc tế trong năm 2007. Các quan chức từng hy vọng công ty này sẽ thúc đẩy tăng trưởng như các tập đoàn bán công của Nam Hàn.
Nhưng trong năm 2010, Vinashin đã bị tìm thấy gian dối trong các báo cáo tài chính của mình, và công ty này gần như sụp đổ dưới số nợ cả trong nước và quốc tế đến gần 4,4 tỷ USD giá trị, một con số gần như tương đương với 5% GDP. Hầu quả là công ty này đã không trả được một khoản vay 4 triệu của Credit Suisse. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - người từng ủng hộ Vinashin như con cưng của mình trong nền kinh tế nhà nước - đã buộc phải xin lỗi trước Quốc hội trong một buổi tự kiểm đau khổ. Các đối thủ của Dũng, trong việc tìm cách bảo vệ các "thái ấp" công ty và chức vụ chính trị của chính mình, đã tìm thấy vật tế thần:
Nhà chức trách đã xử tám giám đốc điều hành vào tháng Ba năm ngoái. Nhưng thay vì tăng tốc quá trình tư nhân hóa đầy hứa hẹn và quá châm chạp từng được khởi xướng vào những năm 1990, chính quyền lại dấu diếm sự thất bại dưới gậm giường.Chính phủ đã đi đến chế độ kiểm soát thiệt hại, từ chối không trả 4 triệu nợ cho Credit Suisse khi tập đoàn vẫn không chịu liên lạc với các chủ nợ châu Âu. Đối phó với cuộc khủng hoảng này, Moody đã đánh tụt hạng tín dụng quốc gia của Vietnam một nấc đến mức B1 từ Ba3, nghĩa là một loại "rủi ro tín dụng cao", dưới hạng mức đáng đầu tư.
Các sự cố đổ vỡ tương tự như Vinashin đang trên đường xảy đến, nhưng các mạng lưới chi trả qua lại bí mật đã cho phép họ che dấu sổ sách thất bại của họ trong nhiều năm qua, theo một số biên tập viên báo chí quốc doanh được phỏng vấn vào năm 2011 cho biết. Một cuộc điều tra trong tháng 5 năm 2012 của chính phủ đã cho thấy rằng công ty vận tải biển Quốc doanh Vinalines đã không trả được năm khoản vay trị giá 1.1 tỷ và đã tích lũy nợ đến 2.1 tỷ, nhiều hơn bốn lần vốn sở hữu của nó. Kể từ tháng Hai, bốn giám đốc điều hành đã bị bắt giữ vì quản lý sai nguồn lực nhà nước, trong khí đó, chính quyền đang tìm kiếm vị cựu chủ tịch công ty đã bỏ trốn.
Các nhà đầu tư nước ngoài, phải đối mặt với chi phí lao động và vật liệu cao hơn, bắt đầu lo lắng rằng Việt Nam đang mất đi ưu điểm giá rẻ của mình. Từ các cuộc phỏng vấn trong 2 năm qua, bốn nhà đầu tư nước ngoài than phiền rằng công ty quốc doanh đã lạm dụng vị trí của họ như những kẻ gác cổng của chính phủ cho các kết nối với ngành công nghiệp. "Họ là những khó khăn, trở ngại", một luật sư kinh doanh người Mỹ ở thành phố Hồ Chí Minh đã nói như thế. "Không ai muốn lăm ăn với những anh chàng này."
Trong khi hiện nay các quan chức Việt Nam đảm bảo với các nhà đầu tư rằng các điều xấu xa nhất đã đi qua rồi, thì một kiểm toán do chính phủ phát hành vào đầu tháng Bảy lại cho thấy ít nhất ba mươi doanh nghiệp nhà nước lớn khác mang gánh những món nợ đáng lo ngại. Vấn đề sâu sắc hơn là ở chỗ Việt Nam, không giống như ở Trung Quốc, các tầng lớp lãnh đạo Đảng Cộng sản là hoang tưởng về việc chia sẻ chiến lợi phẩm với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là với doanh nhân nước ngoài. Ở Trung Quốc, đảng dãngiữ cho thị trường được cạnh tranh bằng cách đưa các doanh nhân tư nhân vào, cải thiện quản trị, tư nhân hóa khoảng 90.000 công ty có trị giá cao hơn $ 1,4 nghìn tỷ từ năm 1998 và 2005, và gần đây hơn họ đã thanh lọc các băng đảng Tân-Mao như cựu bí thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa tìm ra cách để sửa chữa nền kinh tế của mình mà không cần từ bỏ một số hình thức kiểm soát chính trị - một biện pháp mà họ đang không muốn dùng đến.
Thay vì làm sạch các mạng nhện giữa các doanh nghiệp quốc doanh và các chính trị gia bảo trợ của mình, các cầu thủ quyền lực đã đưa ra những chiến dịch chống lại một thế hệ mới của những nhà doanh thương - kiêm lập pháp giàu có. Vào cuối tháng Năm, Quốc hội đã bỏ 96% phiếu ủng hộ để lật đổ bà Đặng Thị Hoàng Yến, một trong chỉ vài vài đại gia không cộng sản trong cơ quan lập pháp vì tội khai gian trên sơ yếu lý lịch.Tội phạm thực sự của Yên: nhiều lần kêu gọi đối xử công bằng với các doanh nghiệp tư nhân, bao gồm gần một nửa của nền kinh tế. "Dọn sạch nhà cửa là gánh nặng mà cơ chế không thực hiện nổi," ông David Brown, một nhà cựu ngoại giao Mỹ tại Hà Nội cho biết.
Trong tháng sáu, việc thắt chặt tín dụng của chính phủ đã giúp giảm lạm phát từ 23% tháng Tám năm ngoái xuống 6,9%. Vấn đề hiện nay, sở hữu chủ một nhà máy sản xuất nhỏ như Nguyễn cho biết, là cơn lũ tín dụng dễ dàng đã làm tăng nguy cơ của một cuộc khủng hoảng ngân hàng. Sau cuộc đổ sụp của doanh nghiệp nhà nước, chính phủ thừa nhận một điều gì có thể là sai về cơ bản trong hệ thống tài chính của mình. Đầu tháng Sáu, người cầm đầu ngân hàng quốc gia Nguyễn Văn Bình cho biết, khoảng 10% các khoản nợ tại ngân hàng Việt Nam là nợ xấu. Thay vì cải cách kinh tế, chính phủ lại đề nghị những thứ tương tự : Một kế hoạch nhằm tạo ra một cơ quan quản lý tài sản quốc qia với 4.8 tỷ để đối phó với các khoản nợ. Nhưng điều đó có nghĩa là lại thiết lập một bộ máy quan liêu, vưóng mắc trong mạng lưới bảo trợ giữa các các tầng lớp lãnh đạo, các ngân hàng, và các công ty.
Các nhà đầu tư đã phàn nàn về việc bị quá tải với nạn quan liêu, và rất nhiều người trong số họ đang suy nghĩ về việc di chuyển đến Indonesia, Bangladesh, Myanmar, ông Denny Cowger, một luật sư của công ty Duane Morris, một công ty luật của Mỹ có văn phòng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cho biết. Trong Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thê giới cho năm 2011 và 2012, Việt Nam đã bị tụt 6 hạng xuống vị trí 65, vì các quy định nặng nề, lạm phát, thâm hụt ngân sách, và cơ sở hạ tầng căng thẳng., báo cáo này khuyên đất nước này nên hướng đến một thị trường lao động tương đối hiệu quả và "có tiềm năng đổi mới" ).
Trong khi đó, các khu vực nhà nước vẫn tiếp tục ngấu nghiến đến 40% GDP. "Quan trọng hơn hết là Việt Nam phải thực hiện một số cải cách kinh tế cơ bản trong nước để duy trì khả năng cạnh tranh", ông Carl Thayer, một giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales nói. "Nhiều khả năng là các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ sử dụng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như một cái cớ bào chữa cho những việc xảy ra".
Nguồn: Foreign Policy

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét